TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 09-12-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Cương
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
- Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Đình T, sinh ngày 22/9/1982 tại Quảng Nam; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Đình Đ và bà Nguyễn Thị X (cả 2 đều còn sống).
Tiền án:
- + Ngày 20/12/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo bản án số 09/2007/HSST
- + Ngày 25/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 01/2008/HSST.
- + Ngày 27/9/2012 bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 46/2012/HSST
- + Ngày 18/7/2015 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 35/2015/HSST
- + Ngày 19/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 35/2015/HSST của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án là: 06 (sáu) năm tù theo Bản án số 57/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/10/2020.
Nhân thân: Ngày 04/8/2022, bị Tòa án nhân dân Quận 1, TP Hồ Chí Minh xử phạt 06 (sáu) năm tù và phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại bản án Hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST.
Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, TP Hồ Chí Minh tại trại giam T1 – Bộ C1. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Ngô Văn N, sinh năm 1999; Địa chỉ thường trú: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Đình C, sinh năm 1980; Địa chỉ thường trú: Tổ B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Địa chỉ liên hệ: 12 P, phường K, quận C, TP Đà Nẵng; Có mặt.
Người làm chứng: Ông Phan Hữu Đ1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm, cần tiền sử dụng mục đích các nhân khoảng 17 giờ ngày 25/12/2020, Đoàn Đình T đi ngang qua khu nhà trọ tại tổ B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen biển kiểm soát 92E-515.90 của anh Ngô Văn N đang dựng phía trước, không có người trông giữ nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô này. T lén lút tiếp cận, ngồi lên xe mô tô của anh N rồi đẩy xe về chỗ ở của mình cách đó khoảng 400m để cất giấu. Sau khi dắt xe vào bên trong nhà, T dùng tua vít cậy mở dàn nhựa bên ngoài, đấu nối dây diện để nổ máy xe. Sau đó, T để xe trong nhà rồi đi ra ngoài có việc.
Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà mà T đang ở và thu giữ toàn bộ tang vật. T biết hành vi của mình bị phát hiện nên đã bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống.
Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 92E1-515.90 kèm theo giấy đăng ký xe, 01 cái kiềm bọc nhựa màu đỏ đen, 01 tuốt nơ vít thử điện màu vàng.
Tại kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 08/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C xác định: Xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 92E1-515.90 có trị giá: 37.520.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng).
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số 82/CT-VKSCL ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đoàn Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng; bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng tội, không oan. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm hòa nhập cộng đồng, xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đoàn Đình T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Đình T mức án từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 92E1-515.90 kèm theo giấy đăng ký xe, cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho người bị hại là có cở sở.
Đối với 01 cái kiềm bọc nhựa màu đỏ đen, 01 tuốt nơ vít thử điện màu vàng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Đình T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Đoàn Đình T có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị xét xử về các tội danh xâm phạm quyền sở hữu, chưa được xóa án tích, trong đó tiền án gần nhất của bị cáo: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2015/HSST ngày 19/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Tổng hợp hình phạt 03 năm tù tại Bản án số 35/2015/HSST ngày 18/7/2015 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu buộc phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án là: 06 (sáu) năm tù, đến ngày 06/10/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Mặc dù bị cáo đã nhiều lần bị xét xử, vừa mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Tuy nhiên do cần tiền sử dụng mục đích cá nhân nên khoảng 17 giờ ngày 25/12/2020, tại khu nhà trọ tổ B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng, Đoàn Đình T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen biển kiểm soát 92E-515.90, trị giá 37.520.000 đồng (ba mươi bảy triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng) của anh Ngô Văn N rồi dắt về chỗ ở của mình cất giấu.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Đình T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội của địa phương. Bị cáo có nhân thân rất xấu, có nhiều tiền án, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Điều này thể hiện bị cáo không ăn năn hối cải, coi thường pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt thỏa đáng để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn như mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, do đó Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện qúa trình điều tra, truy tố bị hại Ngô Văn N xác nhận đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 92E1-515.90. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 92E1-515.90 kèm theo giấy tờ xe, sau khi phục vụ công tác định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho bị hại Ngô Văn N là có cơ sở.
Đối với 01 cái kiềm bọc nhựa màu đỏ đen, 01 tuốt nơ vít thử điện màu vàng xét không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về tổng hợp hình phạt: Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, TP Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Đoàn Đình T 06 (sáu) năm tù và phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật. Hành vi phạm tội trong vụ án đang xét xử được thực hiện trước khi có Bản án số 88/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, TP Hồ Chí Minh. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tù của Bản án đang xét xử với Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, TP Hồ Chí Minh buộc bị cáo phải chấp hành chung.
[8] Về án phí:
Bị cáo Đoàn Đình T phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đoàn Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Đoàn Đình T 03 (ba) năm tù.
Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù của Bản án này với hình phạt 06 năm tù tại Bản hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, TP Hồ Chí Minh, buộc bị cáo Đoàn Đình T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là: 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam theo Bản án số 88/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, TP Hồ Chí Minh, là ngày 20/01/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cái kiềm bọc nhựa màu đỏ đen; 01 tuốt nơ vít thử điện màu vàng
(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2024).
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đoàn Đình T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Cương |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Đình T trộm cắp tài sản
