|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Bích Tuyền và Trần Thị Ánh Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Phước H (Hậu Trề), sinh năm 1992 tại C, An Giang; nơi đăng ký
thường trú và chỗ ở: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Phước H1 (chết) và bà Thái Thị Kim Đ; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người nhỏ nhất;
Tiền sự không;
Tiền án: có 03 tiền án
- Ngày 11-12-2014, bị Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 04-6-2015 chấp hành xong hình phạt;
- Ngày 24-6-2016, bị Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 08-9-2017 chấp hành xong hình phạt, chưa xoá án tích;
- Ngày 29-8-2018, bị Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, đến ngày 01-9-2023, chấp hành xong hình phạt, chưa xoá án tích.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 19-01-2024 đến ngày 26-01-2024 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A, có mặt.
Bị hại:
- Chị Trần Võ Tố P, sinh năm 2000, nơi cư trú: số A T, tổ E, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Bích T, sinh năm 1972, nơi cư trú: số B đường L, tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Ông Tô Văn Ú, sinh năm 1951, nơi cư trú: số A, tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1962, nơi cư trú: số A đường C, tổ C, khóm F, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hùng D, sinh năm 1971, nơi cư trú: số E đường I, tổ A, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Thị Thùy T1, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Ông Phan Thanh S, sinh năm 1980, nơi cư trú: tổ G, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Thái Thị Trúc L, sinh năm 1995, nơi cư trú: tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C; (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng: Đặng Văn Đ1, sinh năm 1993; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 19-01-2024, tại khu vực đường T thuộc tổ B, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, lực lượng tuần tra Công an phường C, thành phố C phát hiện trong lòng bàn tay trái của Bùi Phước H có 01 bọc nilon màu trắng trong hàn kín một đầu, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi ma tuý), tiền Việt Nam 1.530.000 đồng, 01 ống bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất chưa sử dụng trong túi quần trước bên phải của H đang mặc và 04 điện thoại di động các loại trên người và trong cốp xe của H nên lực lượng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và thu giữ tang vật.
Quá trình điều tra, H khai 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn phường C, thành phố C, cụ thể:
Lần thứ 1: Khoảng 10 giờ ngày 05-01-2024, tại nhà của chị Trần Võ Tố P thuộc số A đường T, tổ E, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, H phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 4 màu xanh của chị P để trên bàn bằng gỗ trong gian nhà trước không có người trông giữ, nhà không đóng cửa rào và cửa nhà nên H lén lút đi vào lấy trộm điện thoại rồi điều khiển xe mô tô biển số 67M4-8427 chạy đi. Sau đó, H bán điện thoại lấy trộm được cho người thanh niên Campuchia (không rõ nhân thân, lai lịch) được 1.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ 2: Khoảng 15 giờ ngày 16-01-2024, tại nhà bà Huỳnh Thị Bích T thuộc số B đường L, tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đỏ, gắn ốp lưng bằng nhựa màu đỏ của bà T để ở tấm nệm đặt tại gian nhà trước, thấy trong nhà không có người, H lén lút đi vào lấy trộm điện thoại rồi điều khiển xe mô tô biển số 67M4-8427 chạy đi. H bán điện thoại lấy trộm được cho thanh niên người Campuchia (không rõ nhân thân, lai lịch) được 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ 3: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19-01-2024, tại nhà ông Tô Văn Ú thuộc số 135/48, tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh của ông Ú để trên cái bàn gỗ đặt trong gian nhà trước, trong nhà không có người, H lén lút đi vào lấy trộm điện thoại rồi điều khiển xe mô tô biển số 67M4-8427 chạy đi. Trên đường đi, H tắt nguồn điện thoại và lấy sim gắn trong điện thoại ném bỏ.
Lần thứ 4: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 19-01-2024, tại nhà ông Nguyễn Thanh N thuộc số A đường C, tổ C, khóm F, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu trắng của ông N để trên cái bàn gỗ trong gian nhà trước, trong nhà không có người, H lén lút đi vào lấy trộm điện thoại rồi điều khiển xe mô tô biển số 67M4-8427 chạy đi. Trên đường đi, H tắt nguồn điện thoại và lấy sim gắn trong điện thoại ném bỏ.
Lần thứ 5: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 19-01-2024, tại nhà ông Nguyễn Hùng D thuộc số E, đường I, tổ A, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, thấy cửa rào, cửa nhà của ông D không đóng và điện thoại di động Iphone XS Max đang ghim sạc để trên ghế gỗ trong gian nhà trước, trong nhà không có người, H liền đi vào nhà lấy trộm điện thoại rồi điều khiển xe mô tô biển số 67M4-8427 chạy đi đến hẻm H thuộc khóm V, phường N, thành phố C mua 100.000 đồng Heroin của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) để mang về sử dụng. Trên đường đi tìm nơi sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an phường C, thành phố C tuần tra phát hiện bắt giữ.
Vật chứng thu giữ: 01 bọc nilon nhỏ màu trắng được hàn kín một đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng (kết luận giám định là Heroin, khối lượng 0,1093 gam); 01 ống bơm kim tiêm; 01 lọ nước cất chưa sử dụng; tiền Việt Nam 1.530.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 67M4-8427 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max (đã trả lại cho ông Nguyễn Hùng D); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu trắng (đã trả lại cho ông Nguyễn Thanh N); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh (đã trả lại cho ông Tô Văn Ú); 03 đĩa DVD ghi nhận lại hình ảnh Bùi Phước H lấy trộm tài sản.
Căn cứ các Kết luận định giá tài sản số 95/KL-ĐG ngày 19-01-2024, số 1464/KL-ĐG ngày 30-7-2024, số 1465, 1466/KL-ĐG ngày 31-7-2024, số 1467/KL-ĐG ngày 01-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận: 01 điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Iphone XS Max, dung lượng 64GB, trị giá 7.000.000 đồng, 01 ốp lưng nhựa màu trắng trong suốt, trị giá 20.000 đồng, tổng trị giá 7.020.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 4, màu xanh, trị giá 1.983.000 đồng; 01 điện thoại di động màu đỏ, nhãn hiệu OPPO A3S, trị giá 500.000 đồng, 01 ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, trị giá 10.000 đồng, tổng trị giá 510.000 đồng; 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Redmi 9A, trị giá 850.000 đồng; 01 điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu OPPO A5, trị giá 1.267.000 đồng.
Căn cứ Kết luận giám định số 142/KL-KTHS ngày 25-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu gửi đến giám định là ma tuý, loại Heroin, khối lượng 0,1093 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố, tạm giam Bùi Phước H để điều tra, xử lý.
Tại Cáo trạng số 92/CT-VKSCĐ-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Bùi Phước H về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Bùi Phước H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bùi Phước H từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo từ 08 năm đến 10 năm tù.
Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ lượng ma tuý còn lại sau giám định, 01 ống bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất chưa sử dụng; tiếp tục tạm giữ số tiền 1.530.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67M4-8427 là phương tiện được bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội; tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 03 đĩa DVD ghi nhận lại hình ảnh bị cáo H lấy trộm tài sản.
Về trách nhiệm dân sự, đề nghị áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Bùi Phước H có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Võ Tố P 1.983.000 đồng, bà Huỳnh Thị Bích T 510.000 đồng theo kết luận định giá.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, bị cáo không nói lới nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Toà án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ các Điều 292 và 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Bùi Phước H đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 19-01-2024, tại khu vực đường T thuộc tổ B, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo Bùi Phước H đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 bọc nilon màu trắng trong hàn kín một đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng, qua giám định xác định là ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 0,1093 gam với mục đích cất giấu để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường C, thành phố C phát hiện và bắt quả tang.
Khoảng 10 giờ ngày 05-01-2024, tại nhà của chị Trần Võ Tố P thuộc số A đường T, tổ E, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 4 màu xanh của bà P trị giá 1.983.000 đồng.
Khoảng 15 giờ ngày 16-01-2024, tại nhà chị Huỳnh Thị Bích T thuộc số B đường L, tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đỏ có ốp lưng bằng nhựa màu đỏ của bà T trị giá 510.000 đồng.
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19-01-2024, tại nhà ông Tô Văn Ú thuộc số 135/48, tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh của ông Ú trị giá 850.000 đồng.
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 19-01-2024, tại nhà ông Nguyễn Thanh N thuộc số A đường C, tổ C, khóm F, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu trắng của ông N trị giá 1.267.000 đồng.
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 19-01-2024, tại nhà ông Nguyễn Hùng D thuộc số E, đường I, tổ A, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone XS Max của ông D trị giá 7.020.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 11.630.000 đồng.
Bị cáo Bùi Phước H đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Hành vi của bị cáo H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 bảy năm tù và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã nhiều lần bị kết án nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài, mua ma tuý sử dụng nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma tuý với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự thú về hành vi trộm cắp tài sản; đối với tài sản cá nhân bị cáo không yêu cầu nhận lại mà để tiếp tục cho tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu, có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” và theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, bị cáo nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã giao trả cho bị hại Nguyễn Hùng D 01 điện thoại di động Iphone XS Max, trả cho bị hại Nguyễn Thanh N 01 điện thoại di động OPPO A5 màu trắng, trả cho bị hại Tô Văn U 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A màu xanh là phù hợp nên không đề cập xử lý lại.
- Đối với 01 phong bì niêm phong ghi vụ số 142/KL-KTHS ngày 25/01/2024; 01 thẻ giấy bọc nylon màu trắng trong suốt được dán kín, bên trong chứa 01 ống bơm kim tiêm màu trắng – đỏ, chưa sử dụng; 01 lọ thủy tin có in chữ NƯỚC CẤT TIÊM 5M1, chưa sử dụng là vật cấm lưu hành, công cụ phạm tội bị thu giữ, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với số tiền 1.530.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản cá nhân của bị cáo nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu đen là của bị cáo sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên giao trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại mà giao tạm giữ để thi hành án nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành nghĩa vụ của bị cáo bồi thường thiệt hại đối với bị hại.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 67M4-8427 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe là tài sản thuộc quyền sở hữu, quản lý hợp pháp của bị cáo, xe mô tô được bị cáo sử dụng làm phương tiện dùng vào việc trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 03 đĩa DVD ghi nhận lại hình ảnh bị cáo H lấy trộm tài sản tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Trần Võ Tố P, Huỳnh Thị Bích T có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản theo giá trị Hội đồng định giá đã định và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại. Do đó, buộc bị cáo Bùi Phước H có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại Trần Võ Tố P số tiền 1.983.000 đồng, Huỳnh Thị Bích T số tiền 510.000 đồng là giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo kết luận định giá tài sản.
Bị hại Tô Văn Ú, Nguyễn Thanh N và Nguyễn Hùng D đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
[8] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma tuý cho bị cáo Bùi Phước H Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dan sự theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 55 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Bùi Phước H (tên gọi khác Hậu T2) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Phước H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 19-01-2024 (ngày mười chín, tháng một, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy: lượng ma tuý còn lại sau giám định; 01 thẻ giấy bọc nylon màu trắng trong suốt dán kín, bên trong chứa 01 ống kim tiêm màu trắng – đỏ; 01 lọ thủy tinh có in chữ NƯỚC CẤT TIÊM 5ml.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 67M4-8427 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.530.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S, màu đen thu giữ của bị cáo Bùi Phước H để đảm bảo thi hành án.
(Đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 03 đĩa DVD ghi nhận lại hình ảnh bị cáo H lấy rộm tài sản.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Bùi Phước H có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Võ Tố P số tiền 1.983.000 đồng (Một triệu, chín trăm tám mươi ba nghìn đồng); bồi thường cho bà Huỳnh Thị Bích T số tiền 510.000 đồng (Năm trăm mười nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Phước H phải chịu 200.000 đồng (hai tram nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba tram nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 109/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Phước Hậu - TCTS, TTTPCMT
