Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HS-ST

Ngày:13-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

    Thẩm phán: Bà Trần Thị Chọn

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trương Hiển

    Bà Trần Thị Ngọc Trân

    Bà Đào Thị Kim Loan

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Thái Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên Vũ Thị T, sinh ngày 26/12/1976 tại huyện G, tỉnh hải Dương. Nơi thường trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Thủ quỹ Bưu điện huyện G; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức T1, sinh năm 1941 và bà Tăng Thị D, sinh năm 1940; có chồng là Vũ Mai P (đã ly hôn) và 02 người con, sinh năm 2003 và năm 2008; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2023 đến nay (có mặt).

  • - Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Nguyễn Trường T2 - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (Có mặt).

  • - Bị hại: Bưu điện huyện G.

  • Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Dương L - Phó Giám đốc phụ trách Bưu điện huyện G (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bưu điện huyện G là đơn vị trực thuộc Bưu điện tỉnh K có 100% vốn Nhà nước hoạt động theo mô hình doanh nghiệp Nhà nước, thuộc Tổng Công ty B. Bưu điện huyện G cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực Bưu chính chuyển phát, tài chính, phân phối truyền thông và các dịch vụ hành chính công do Chính phủ cho phép. Quá trình hoạt động, Bưu điện huyện G có ký hợp đồng với Phòng L2 (TB&XH) huyện G chi trả trợ cấp Bảo trợ xã hội từ năm 2016; Người có công cách mạng từ năm 2021 cho đến nay. Trong năm 2023, Phòng Lao động, TB&XH huyện G và Bưu điện huyện G có ký Hợp đồng số 01/HĐ-PLĐXH ngày 03/01/2023 về việc “Chi trả trợ giúp xã hội cho các đối tượng Bảo trợ xã hội” và Hợp đồng số 02/HĐ-PLĐXH ngày 03/01/2023 “Về việc chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng”. Theo hợp đồng vào ngày 05 hàng tháng, Phòng Lao động TB&XH huyện G sẽ chuyển 2 nguồn kinh phí cho Bưu điện huyện G để ngày 06 bắt đầu thực hiện chi trả. Do tháng 06/2023 Phòng Lao động TB&XH huyện G thay đổi Kế toán trưởng chưa đăng ký chữ ký với Kho bạc và Ngân hàng nên đến chiều ngày 07/06/2023 Bưu điện huyện G mới nhận được tiền chi trả của Phòng Lao động TB&XH huyện G. Bưu điện huyện G tiến hành rút tiền và lập danh sách, số tiền tiếp quỹ chuyển xuống cho các xã, bắt đầu chi trả vào ngày 08/06/2023.

Vũ Thị T được phân công giữ nhiệm vụ Thủ quỹ Bưu điện huyện G từ năm 1998 đến ngày 11/06/2023, nhiệm vụ cụ thể là giữ tiền của Bưu điện huyện, thực hiện các khoản thu chi tài chính, bưu chính tại Bưu điện huyện đúng theo quy định. Vào khoảng 13h ngày 11/06/2023 (ngày chủ nhật), Vũ Thị T lợi dụng ngày nghỉ Bưu điện không có ai đi làm nên T đến Bưu điện huyện G vào bên trong phòng quỹ mở két sắt lấy tiền. Khi lấy tiền xong, ngày 12/06/2023 (thứ hai) T không đi làm, đến chiều ngày 13/06/2023 T đến Bưu điện huyện G thừa nhận với Lãnh đạo Bưu điện là T đã tự ý lấy tiền quỹ bên trong két sắt của Bưu điện. Sau đó Bưu điện tiến hành kiểm quỹ tiền mặt, tiền còn trong két sắt là: 15.034.000đ; đồng thời T đang giữ tiền mặt tự nộp lại cho Bưu điện huyện G 56.000.000₫.

Qua đối chiếu các chứng từ thu, chi (từ ngày 01/6/2023 đến 11/6/2023), Vũ Thị T chiếm đoạt của Bưu điện huyện G tổng cộng 1.541.093.534đ. T khai nhận chiếm đoạt số tiền 1.541.093.534₫ để trả nợ vay bên ngoài (quá trình cho vay, trả nợ thì T không biết tên, địa chỉ, số điện thoại của người cho vay).

  • * Tại Kết luận giám định số 1250/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh K, kết luận:

    - Đã tìm thấy được 02 (hai) tập tin có phần hiển thị trên màn hình, có thông tin ghi ngày 11/06/2023 gồm:

    • + Tập tin video “11_06 TRƯA.avi” dung lượng 515MB có thời lượng 06:29:00;

    • + Tập tin video “11_6 CHIEU.avi" dung lượng 515 MB có thời lượng 05:55:00.

    • + Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong 02 (hai) tập tin video được trích xuất trong USB gửi đến giám định.

    • - Đã trích xuất 33 (ba mươi ba) tập tin hình ảnh trong tập tin “11_06 TRƯA,avi” có nội dung vụ việc trên.

  • * Vật chứng, tài liệu thu giữ gồm:

    • - Ngày 07/07/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện G, Công an tỉnh K lập biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật dữ liệu điện tử: Chứng từ thu chi tài chính, bưu chính tại Bưu điện huyện G từ ngày 01/06/2023 đến 11/06/2023.

    • - Ngày 11/09/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện G, Công an tỉnh K lập biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật dữ liệu điện tử: Hợp đồng số 01/HĐ-PLĐXH ngày 03/01/2023 của Phòng L2 về việc “Chi trả trợ giúp xã hội cho các đối tượng Bảo trợ xã hội”; Hợp đồng số 02/HĐ-PLĐXH ngày 03/01/2023 của Phòng L2 “Về việc chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng”.

    • - Ngày 08/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện G, Công an tỉnh K lập biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật dữ liệu điện tử: 01 USB nhãn hiệu Kingston màu đen-xanh có dung lương 64GB bên trong có lưu 24 (Hai mươi bốn) tập tin dữ liệu camera có tổng dung lượng 14,4 GB.

Các vật chứng giữ nêu trên đã đưa vào hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 33/CT - VKSTKG-P1 ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Vũ Thị T về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Thị T. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T 20 năm tù, cấm đảm nhiệm chức vụ 3 năm. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo phải trả lại cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt.

  • - Bị cáo Vũ Thị T có ý kiến: Thừa nhận đã thực hiện hành vi như truy tố của Viện kiểm sát. Đồng ý chịu trách nhiệm trả lại số tiền đã chiếm đoạt như nêu trên.

  • - Người bào chữa cho bị cáo T có ý kiến: Đồng ý về tội danh, khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố, luận tội đối với bị cáo. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân có thời gian dài làm việc trong Bưu điện, được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp Bưu chính và năm 2005 được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở; có cha ruột là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến; hoàn cảnh gia đình khó khăn; đại diện bị hại có ý kiến xin giảm hình phạt cho bị cáo. Từ đó đề nghị áp dụng cho bị các được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 điều 51 và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất có thể, dưới khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự.

  • - Đại diện Bưu điện huyện G có ý kiến: Về trách nhiệm hình sự, yêu cầu xử bị cáo mức án nhẹ nhất có thể. Về trách nhiệm dân sự, yêu cầu buộc bị cáo phải hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị T khai nhận bản thân đã thực hiện hành vi như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể: Khoản 13 giờ ngày 11/6/2023 (ngày chủ nhật), lợi dụng ngày nghỉ không ai đi làm, Vũ Thị T đến Bưu điện huyện G, vào phòng quỹ mở két sắt lấy tiền mà mình đang quản lý, đem về trả nợ vay bên ngoài. Quá trình điều tra xác định T chiếm đoạt của Bưu điện huyện G 1.541.093.534đ, T đã nộp lại 5.000.000đ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ để kết luật hành vi bị cáo thực hiện cấu thành tội tham ô tài sản quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý chiếm đoạt một số tiền tương đối lớn mà bản thân được đơn vị giao quản lý, để sử dụng mục đích cá nhân trái pháp luật, cho thấy bị cáo xem thường, bất chấp kỹ cương pháp luật.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp lại 5.000.000đ; quá trình công tác đã được tặng thưởng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” năm 2005; có cha ruột là ông Vũ Đức T1 là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; đại diện bị hại yêu cầu giảm hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét ý kiến của người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là không có cơ để chấp nhận. Bở lẽ, việc bị cáo được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” trong quá trình làm việc không được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, mà chỉ là tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó cho thấy bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận một phần ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, quyết định xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T chiếm đoạt của Bưu điện huyện G 1.541.093.534đ, trong quá trình điều tra bị cáo đã nộp lại 5.000.000đ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang, nên bị cáo còn phải tiếp tục trả lại cho Bưu điện huyện G 1.536.093.534₫.

[6] Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 58.082.806đ án phí dân sự sơ thẩm. Phần án phí dân sự sơ thẩm được tính cụ thể như sau: số tiền còn phải hoản trả 1.536.093.534đ; án phí phải chịu là 36.000.000đ + 3% của phần vượt 800.000.000₫ (736.093.534đ) = 58.082.806₫.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Tham ô tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 20 (Hai mươi) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giam (ngày 31/10/2023).

  2. Căn cứ khoản 5 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Cấm bị cáo Vũ Thị T đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản của cơ quan, tổ chức trong thời hạn 03 (ba) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  3. Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự:

    Buộc bị cáo Vũ Thị T hoàn trả lại cho Bưu điện huyện G, tỉnh Kiên Giang 1.541.093.534đ (Một tỷ năm trăm bốn mươi mốt triệu không trăm chín mươi ba nghìn năm trăm ba mươi bốn đồng), bị cáo đã nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002232 ngày 22/3/2024, còn phải tiếp tục trả 1.536.093.534đ (Một tỷ năm trăm ba mươi sáu triệu không trăm chín mươi ba nghìn năm trăm ba mươi bốn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Bưu điện huyện G, tỉnh Kiên Giang nếu bị cáo T không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả tiền lãi cho Bưu điện huyện G, tỉnh Kiên Giang theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  4. Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 58.082.806đ (Năm mươi tám triệu không trăm tám mươi hai nghìn tám trăm lẻ sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/9/2024).

T3 hợp phần dân sự của bản án đượcthi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - THADS tỉnh KG (1)
  • - CQĐT CA tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh KG;
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Luật sư (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Lịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tham ô tài sản

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị T chiếm đoạt tiền cơ quan chi sài cá nhân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger