Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:109/2024/HS-ST

Ngày:01-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thủy- Bí thư đoàn xã Diễn Vạn.

Và ông Nguyễn Thế Anh – Cán bộ Đảng ủy Thị trấn Diễn Châu.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 26/07/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Ngọc C (tên gọi khác: không); sinh ngày 30 tháng 10 năm 2006 tại huyện D, Nghệ An; nơi cư trú: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn H, sinh năm 1973, con bà Phạm Thị Hiếu T, sinh năm 1983; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;Tam giữ, tạm giam: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 09/4/2024 đến nay (có mặt).

Bị hại: ông Đặng Văn N, sinh năm 1961.

Trú tại: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Cao Đức T1, sinh năm 1982.(vắng mặt)

Trú tại: xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện cho bị cáo: bà Phạm Thị Hiếu T – làm mẹ đẻ bị cáo.

Trú tại: xóm A, xã D, D, tỉnh Nghệ An (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: bà Phan Thị T2- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Chi nhánh số 1- Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. (có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- bà Phạm Thị Hiếu T. (có mặt)

Trú tại: xóm A, xã D, D, tỉnh Nghệ An.

- ông Cao Văn N1, sinh năm 1975. (vắng mặt)

Trú tại: xóm M, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hoàng Ngọc C không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, C tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 37F2 – 882.88 (nhưng đã bị rơi biển số), loại xe Wave alpha màu đen - xám do chị Phạm Thị Hiếu T (sinh năm 1983, trú tại xóm A, xã D, huyện D) quản lý, C điều khiển xe xuất phát từ nhà thuộc xóm A, xã D, huyện D đi theo Quốc lộ A để đến trường theo hướng từ N ra B. Khoảng 06 giờ 45 phút cùng ngày khi đi đến đoạn đường thuộc Km 428 + 900 m thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D - nơi có lối mở qua đường Quốc lộ 1 để lên chợ S, C chạy xe với tốc độ trong khoảng 72,72 (km/h) đến 83,88 (km/h) trong khi đoạn đường chỉ cho phép đi tốc độ tối đa 70 km/h. Lúc này có ông Cao Văn N1 (sinh ngày 02/9/1975, trú tại xóm M, xã D, huyện D) đi xe đạp cùng chiều ra tín hiệu xin đường để vào lối rẽ từ đông sang tây, do C chạy xe mô tô tốc độ nhanh, không chủ động giảm tốc độ, khi đến đoạn đường có vạch sơn dành cho người đi bộ sang ngang đã xử lý không kịp nên đâm vào bánh trước xe đạp ông Cao Văn N1 rồi cả 02 người bị ngã xuống đường. Sau đó xe mô tô của Hoàng Ngọc C văng vào lề đường phía Đông va vào ông Đặng Văn N (sinh ngày 06/01/1961, trú tại xóm T, xã D, huyện D) đang tập thể dục làm ông N bị thương và được đưa đi cấp cứu đến ngày 13/01/2024 thì tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định thuộc Km 428 + 900m chiều đường N ra B Quốc lộ A, thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D; được ngăn cách với chiều đường phía Tây bằng giải phân cách cố định. Tại khu vực này có lối mở qua lại 02 chiều đường, đầu và cuối điểm mở có vạch sơn trắng đứt đoạn dành cho người đi bộ. Đường rộng 09 mét, trong đó có 02 làn đường xe cơ giới rộng 07 mét, có vạch sơn đứt đoạn chia 02 làn đường; làn đường xe thô sơ rộng 02 mét có vạch sơn liền màu trắng phân chia với làn xe cơ giới; đường thông thoáng, thẳng được rải thảm nhựa bằng phẳng không bị che khuất tầm nhìn.

Ghi nhận đánh số thứ tự dấu vết trên hiện trường.

  • - Số (1) vết trượt dạng chấm trên mặt đường kích thước 0,5cm x 0,5cm.
  • - Số (2) vết cày trượt trên mép đường và lề đường.
  • - Số (3) vết trượt lốp xe liên tục hình vòng cung màu đen rộng 13cm, đường dây cung 2,9m.
  • - Số (4) vết trượt lốp liên tục màu đen, thẳng kích thước 2,3m x 0,14m.
  • - Số (5) vùng dấu vết máu không rõ hình kích thước 0,9m x 0,8m.
  • - Số (6) vị trí xe mô tô.
  • - Số (7) vùng bờ tường xây táp lô bị đổ sập kích thước 1,4m x 0,25m.

Xác định mốc và mép đường chuẩn để làm chuẩn đo đạc.

Lấy tâm cột Km 428 +900m (H9/428) trên giải phân cách cố định làm mốc; lấy mép đường phía Đông tại khu vực hiện trường làm mép chuẩn; đơn vị đo là mét (m); một số chỉ số nhỏ lấy đơn vị cen ti mét (cm).

Mô tả hiện trường:

  1. Vết trượt màu trắng trên mặt đường; đo từ tâm dấu vết vào mép đường chuẩn là 4,5m, đo đến mốc theo phương chiều song song với đường là 42m.
  2. Vết cày trượt làm bung đá nhựa và bê tông lề đường, chiều hướng từ N ra B, từ Tây xuống Đông kích thước (KT): 0,7m x 0,15m; điểm đầu nằm trên mép đường chuẩn cách mốc 21,6m theo phương song song với đường, điểm cuối trên lề đường phía Đông cách mép chuẩn là 0,2m.
  3. Vết trượt lốp hình vòng cung nằm trên phần lề đường bằng bê tông phía Đông khu vực phía trước ngõ nhà ông Đặng Văn N. Chiều hướng dấu vết từ Nam ra B; điểm đầu dấu vết đến mép đường chuẩn là 2,7m, cách điểm đầu vết số (2) là 5,5m, điểm cuối cách mép đường chuẩn là 4,1m.
  4. Vết trượt lốp chiều hướng từ N ra B, trên bề mặt có dạng hình đường sọc ngang; điểm đầu dấu vết đến mép đường chuẩn là 3,8m, cách điểm đầu dấu vết (2) là 5,5m; điểm cuối cách mép đường chuẩn là 4,5m. Dấu vết nằm trên lề đường phía Đông khu vực phía trước ngõ nhà ông Đặng Văn N.
  5. Vùng dấu vết máu nạn nhân (ông N) nằm trên lề đường phía Đông khu vực phía trước ngõ nhà ông Đặng Văn N, gần điểm cuối vết 3, 4; tâm dấu vết cách mép đường chuẩn là 4,1m, cách điểm đầu dấu vết 2 là 7,8m.
  6. Xe mô tô không biển số loại xe Wave alpha màu đen- xám nằm ngã nghiêng về bên phải, đầu hướng Đông, đuôi xe hướng Tây, vuông góc với chiều đường. Đo từ tâm trục bánh xe trước đến mép đường chuẩn là 7,6m; đo từ trục bánh sau đến mép chuẩn là 6,3m, cách điểm đầu vết 2 theo phương song song với đường là 7,4m.
  7. Vùng bờ tường chạch thẳng, vuông góc với chiều đường ngăn cách giữa phần đất nhà ông N với phần đất nhà phía Bắc có 01 vùng bị đổ sập chiều hướng Nam ra B. T3 vùng đổ sập cách mép đường chuẩn là 05m, cách điểm đầu vết số 2 là 9,4m.

(tất cả các dấu vết 2,3,4,5,6,7 nằm phía Bắc của mốc).

Kết quả khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô không có biển số, loại xe Wave alpha màu đen- xám.

Dấu vết để lại trên phương tiện liên quan vụ tai nạn:

  • - Vùng nhựa ốp phía trên đèn và một phần gương đèn pha trước bị trượt xước, mài mòn, bám dính bụi đất, chiều hướng từ trái qua phải, KT: 31cm x 13cm.
  • - Phần nhựa ốp phía trước đồng hồ công tơ mét, nơi tiếp giáp với vùng dấu vết thứ nhất bị nứt vỡ KT: 12cm x 03cm, bị bung hở so với vùng nhựa liền phía trước.
  • - Vùng cánh yếm bên phải bị bung hở với phần mặt nạ phía trước, trên bề mặt có vùng trượt xước làm mài mòn nhựa hướng từ trước ra sau KT: 13cm x12cm; vị trí cao nhất so với mặt đất là 89cm.
  • - Mũi trước của dè chắn bùn phía trước bên phải có vùng trượt xước sơn KT: 03cm x 1,5cm.
  • - Núm tay cầm bên phải, tại vị trí mặt ngoài có 01 vùng mài mòn kim loại KT: 1,5cm x 0,5cm.
  • - Tại vị trí tiếp giáp giữa phần nhựa cánh yếm bên phải phía dưới với phần nhựa ốp thân xe bị bung hở so với ban đầu.
  • - Phía bên phải vành xe phía trước có 02 vùng bị xô đẩy hướng vào tâm bánh xe; vùng thứ nhất dài 18cm, tâm dấu vết cách van bơm hơi 13cm theo chiều ngược kim đồng hồ; vùng thứ 2 đối diện với vùng thứ nhất qua tâm bánh xe dài 11cm.
  • - Bàn đạp phanh chân bên phải bị xô đẩy cong từ trước ra sau, mặt ngoài bị mài mòn kim loại, hướng từ trước ra sau, KT: 02cm x 0,5cm.
  • - Bàn để chân phía trước bên phải bị xô đẩy từ trước ra sau, từ dưới lên trên, áp sát vào lốc máy, vỏ bọc cao su bung một phần khỏi lõi kim loại.
  • - Mặt ngoài phần lõi kim loại bị mài mòn kim loại, bám dính bụi bẩn màu trắng, KT: 4cm x 1,5cm.
  • - Mặt ngoài ốp vỏ bảo vệ ống xã có 01 vùng trượt xước mài mòn kim loại, không xác định chiều hướng, KT: 31cm x 04cm.
  • - Ốp nhựa thân xe phía sau có vết nứt hình góc vuông, có KT: 05cm x 06cm.
  • - Trên mép lốp (mặt ngoài) bên trái của bánh xe phía sau có 02 vùng mài sáng cao su, vùng thứ nhất có KT: 18cm x 03cm, tâm cách van bơm hơi 26cm theo chiều kim đồng hồ. Vết thứ 2 có KT: 22cm x 5cm, tâm vùng dấu vết cách van bơm hơi 38cm theo chiều ngược kim đồng hồ.
  • - Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe mô tô hoạt động bình thường.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe đạp nhãn hiệu PEUGOT.

Dấu vết liên quan tai nạn:

  • - Trên vành xe bánh phía trước, tại vị trí đối diện với van bơm hơi có 01 vùng dấu vết nứt gãy vành, trượt xước kim loại, bong tróc lớp mạ kim loại, xô đẩy cong vênh, chiều hướng từ trái qua phải, kích thước 05cm x 02cm.
  • - Ở mặt ngoài tay cầm bên phải có 01 vùng trượt xước, mài mòn võ bọc da, không rõ chiều hướng, KT: 16cm x 02cm.
  • - Mặt ngoài bàn để chân bên phải có 01 vùng bị mài mòn kim loại không xác định được chiều hướng, KT: 03cm x 1,5cm.
  • - Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe hoạt động bình thường.

Kết quả khám nghiệm tử thi: ông Đặng Văn N, sinh năm 1961, trú tại tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An:

  • + Một số vết xây xát da tại các vị trí: Đỉnh chẩm bên trái, trán đỉnh bên phải, niêm mạc môi trên, môi dưới bên phải và 1/3 dưới trước cẳng chân bên trái.
  • + Gia đình từ chối giải phẩu tử thi để tìm nguyên nhân tử vong.
  • + Không có cơ sở để kết luận nguyên nhân tử vong.

Trưng cầu giám định tử thi trên hồ sơ.

  • + Kết luận giám định pháp y tử thi trên hồ sơ số 09 ngày 05/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Đặng Văn N: Suy tuần hoàn, suy hô hấp do đa chấn thương/Chấn thương sọ não; chấn thương cột sống cổ.

Kết quả giám định về cơ học: Kết luận giám định số 47/KL-KTHS(DVCH) ngày 16/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • - Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông xe mô tô không mang biển số di chuyển trên đường Q theo hướng từ V đi Hà Nội, xe đạp di chuyển theo hướng từ phải sang trái, chếch từ sau ra trước so với hướng di chuyển của xe mô tô không mang biển số.
  • - Vị trí va chạm giữa xe mô tô không mang biển số và xe đạp và trên hiện trường:
  • + Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải Quốc lộ A theo hướng từ thành phố V đi Hà Nội.
  • + Trên xe đạp: Ở phần bên trái bánh trước.
  • + Trên xe mô tô không biển số: Ở bánh trước.

Kết quả Giám định dữ liệu điện tử và tốc độ:

Kết luận giám định số: 27/KL- KTHS(Đ3-KTSĐT) ngày 20/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • - Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video gửi đến giám định.
  • - Tốc độ di chuyển của xe mô tô Wave alpha, không gắn biển số do Hoàng Ngọc C điều khiển ngay trước khi xảy ra va chạm với xe đạp trong khoảng 72,72 (km/h) đến 83,88 (km/h).

Kết quả đo nồng độ cồn và ma túy: Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở và test ma túy trong nước tiểu của Hoàng Ngọc C, Cao Văn N1 sau khi tai nạn kết quả: không có cồn trong hơi thở; âm tính với ma túy.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên là do Hoàng Ngọc C điều khiển xe mô tô với tốc độ 72,72 (km/h) đến 83,88 (km/h) vượt quá tốc độ cho phép là 70 km/h được quy định tại Điều 12 Luật giao thông đường bộ và Điều 7 Thông tư 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn xe cơ giới quy định tốc độ tối đa đối với xe mô tô trên đường đôi, đường A chiều có từ 02 làn xe cơ giới trở lên; khi đến đoạn đường có vạch sơn dành cho người đi bộ, biển báo người đi bộ sang ngang (Biển I.423 theo quy chuẩn Việt Nam (QCVN) 41/2019) nhưng không chủ động giảm tốc độ, vi phạm quy định tại Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Lỗi vi phạm của Hoàng Ngọc C dẫn đến tai nạn giao thông làm xe mô tô văng vào ông Đặng Văn N đang đứng bên lề đường tử vong.

Về vật chứng:

  • - 01 (Một) xe mô tô không có biển số loại xe Wave an pha màu đen, số khung 743783; số máy: 3211562; xe bị hư hong do tai nạn. Qua xác minh, chủ sở hữu là Hoàng Ngọc C, tuy nhiên do C chưa thành niên nên chị Phạm Thị Hiếu T - là mẹ của C quản lý.
  • - 01 (Một) xe đạp loại xe nhãn hiệu PEUGEOT; màu sơn vàng; xe bị hư hỏng do tai nạn.

Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại phương tiện cho chủ sở hữu theo quy định.

Về dân sự: Gia đình bị cáo Hoàng Ngọc C đã đền bù thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng), gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKSDC ngày 28/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Hoàng Ngọc C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Ngọc C khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Cao Đức T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và được chủ tọa phiên tòa công bố các bản khai có trong hồ sơ thể hiện gia đình đã nhận đủ số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Hiếu T không có ý kiến gì thêm và không yêu cầu bồi thường gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Cao Văn N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, được chủ tọa phiên tòa công bố các bản khai có trong hồ sơ và không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dung và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 100 xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc C từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập của bị cáo; Về dân sự: Đại diện cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì nên không xem xét; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì về tội danh đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Ngọc C 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Ngọc C khai nhận: Vào khoảng 6 giờ 45 phút ngày 02/01/2024, tại đoạn đường Q thuộc Km 428 + 900 m thuộc địa phận xóm T, xã D, huyện D, Hoàng Ngọc C không có giấy phép lái xe điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F2 – 882.88 (nhưng đã bị rơi biển số), đi hướng V - Hà Nội. Do vượt quá tốc độ, nên đã gây tai nạn với xe đạp do ông Cao Văn N1 điều khiển đi cùng chiều, sau đó xe mô tô của C văng vào lề đường phía Đông va vào ông Đặng Văn N. Hậu quả: ông Đặng Văn N tử vong. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, phù hợp với kết luận giám định pháp y số 09/KLGĐ-PC ngày 05/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với lời khai của người đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của Hoàng Ngọc C đã vi phạm quy định Điều 12 Luật giao thông đường bộ và Điều 7 Thông tư 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn xe cơ giới quy định tốc độ tối đa đối với xe mô tô trên đường đôi, đường A chiều có từ 02 làn xe cơ giới trở lên; khi đến đoạn đường có vạch sơn dành cho người đi bộ, biển báo người đi bộ sang ngang (Biển I.423 theo quy chuẩn Việt Nam (QCVN) 41/2019) nhưng không chủ động giảm tốc độ, vi phạm quy định tại Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả ông Đặng Văn N tử vong. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố và đề nghị kết tội bị cáo Hoàng Ngọc C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của người khác, gây tâm lý lo ngại cho người tham gia giao thông. Do đó, cần xử phạt bị cáo với hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo là người phạm tội dưới 18 tuổi, phạm tội với lỗi vô ý; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, nên cần áp dụng điều 91 và Điều 100 Bộ luật hình sự xử cho bị cáo được cải tạo không giam giữ với mức hình phạt như đại diện viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng. Và không khấu trừ thu nhập của bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo và gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì vì vậy áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý theo đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

[8.1] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[8.2] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc C 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Không khấu trừ thu nhập của bị cáo.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện D, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã D, D, Nghệ An trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Ngọc C.

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Hoàng Ngọc C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - CA huyện Diễn Châu;
  • - CCTHA Dân sự huyện Diễn Châu;
  • - THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - bị cáo; bị hại,
  • - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
  • - Lưu hồ sơ + Lưu trữ.

Võ Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 109/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc C (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger