Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 109/2024/DS-PT
Ngày: 25/4/2024
V/v: “Tranh chấp lối đi chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên

Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương

Ông Trần Vĩnh Yên

Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp lối đi chung”. Do bản án sơ thẩm số 103/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện L bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXX-PT ngày 04/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 195/2024/QĐ-HPT ngày 28/3/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Nơi ở hiện nay: tổ A Xóm G, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Võ Thành P, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P: Luật sư Nguyễn Thị T – Công ty L1.

Địa chỉ: B H, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà H, ông P, bà T có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn có bà Trần Thị H trình bày:

Bà Trần Thị H là chủ sử dụng các thửa đất số 35, 77, 78, 79, 80, 81 tờ bản đồ số 48 có tổng diện tích là 3.378,6m² được Sở tài nguyên và môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Thị H. Trước và sau khi chuyển nhượng đất có con đường đi chung ngang 4 m dài khoảng 10m để đi vào đất, đoạn đường đi chung tiếp giáp với thửa đất số 77, tờ bản đồ số 48 xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Ông Võ Thành P là người giáp ranh đất bà H đã ngang nhiên cản trở lối đi chung hiện hữu đã có đi từ nhiều năm nay. Bà H đã nhiều lần yêu cầu ông P chấm dứt hành vi cản trở lối đi chung nhưng ông P vẫn cố tình cản trở đường đi vào đất của bà H.

Sau khi đo vẽ thì được biết lối đi chung là đường giao thông có diện tích 48,6m², bà H đề nghị ông P chấm dứt hành vi cản trở lối đi chung đường đi vào đất của bà. Đối với con đường phía trước phần đất của bà H, ông P đã cho máy múc hết đất của con đường sang phần đất của ông, bà sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Thành P đại diện trình bày:

Ông P không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà H vì ông P xác định diện tích đường giao thông là đất của ông, phần đất này ông quản lý sử dụng từ năm 1972, gia đình ông tự mở để đi vào đất, đến năm 2016 -2017 những người giáp ranh đất của ông có sử dụng đường này để đi vào đất nhưng ông chỉ cho ông Ngô Văn B sử dụng con đường này để đi vào đất, sau khi ông B chết, gia đình ông B bán cho nhiều người khác thì ông không cho đi nữa, người mua cuối cùng là bà H ông cũng không cho bà H đi nữa vì nguồn gốc đất con đường đi là của gia đình ông, sau này ông là người trực tiếp quản lý có quyền không cho người khác đi.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông P trình bày diện tích đất tranh chấp không phải là lối đi mà được ông trồng tràm và điều trên đất từ năm 2019 đến nay.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2023/DSST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện L đã xét xử:

Áp dụng Điều 169, Điều 248 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 170 Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H đối với bị đơn ông Võ Thành P về việc “Tranh chấp lối đi chung”.

Buộc ông Võ Thành P chấm dứt hành vi cản trở bà Trần Thị H đi lại đối với đường giao thông có diện tích 48,6m² thuộc thửa thửa số 65b, tờ bản đồ số 48 xã P.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 26/9/2023 ông Võ Thành P kháng cáo toàn bộ bản án theo hướng hủy bản án sơ thẩm để xử vụ án một cách khách quan, công bằng theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về nội dung kháng cáo:

Theo Bản đồ hiện trạng số 994/2023 ngày 10/3/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh L2 thể hiện: phần diện tích đất tranh chấp 48,6m² được giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,6,7,1) thuộc thửa 65b tờ bản đồ 48 xã P là đất giao thông.

Tại công văn số 7765/VPĐKLT.ĐĐ ngày 17/8/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh L2 thể hiện: theo Bản đồ địa chính xã P thành lập năm 2010, ranh giới thửa đất số 28 tờ bản đồ 48 (bản đồ mới) tiếp giáp với đường giao thông. Do đó phần diện tích 48,6m² theo Bản đồ hiện trạng số 994/2023 do Văn phòng Đ – Chi nhánh L lập ngày 10/3/2023 không thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 48 xã P.

Như vậy, phần diện tích đất trên không thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông P mà là đất giao thông nên việc ông P cản trở bà H sử dụng là không đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông P chấm dứt hành vi cản trở bà H sử dụng đường đi chung là có căn cứ.

Từ những phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Võ Thành P, áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:

Bản đồ hiện trạng thửa đất số 3354/2016 ngày 29/3/2026 và 12205/2015 ngày 13/10/2015 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L2 cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án khác đối với thửa đất số 28 của ông P thể hiện hình thể con đường đất này hoàn toàn khác và phần đất tranh chấp được coi là thửa 65b này hoàn toàn không có trong bản đồ hiện trạng năm 2015, 2016 nêu trên nên không có sơ sở chứng minh phần diện tích đất tranh chấp thuộc phần đất giao thông của thửa 65b. Người làm chứng ông Từ Bá T1, ông Hứa Ngọc T2, Ngô Chí H1, ông Lã Văn Q trình bày diện tích tranh chấp do gia đình ông P sử dụng để trồng điều và tràm từ trước đến nay nên diện tích đất trên là của ông P và không phải là đường đi chung.

Quá trình giải quyết tòa án cấp sơ thẩm vi phạm: Phần diện tích đất tranh chấp có trồng tràm nhưng biên bản xem xét thẩm định tại chổ ghi nhận đất trống; tòa án căn cứ vào kết luận của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L2 và lời khai của ông Võ văn L là em ông P đang có mâu thuẫn cá nhân với ông P để kết luận đất tranh chấp là đường đi có từ trước đến nay và là đường giao thông là không phù hợp. Nguyên đơn khởi kiện đối với phần diện tích đất 160m2 nhưng khi đo đạc diện tích đất tranh chấp chỉ có 48,6m² Tòa án không xác định lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đánh sai họ của bà Trần Thị H là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên bà T đề nghị hủy án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Võ Thành P làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí theo quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa bà H trình bày bà hủy ủy quyền với ông Võ Tuấn N, ông P hủy ủy quyền cho bà T3, ông D. Bà H, ông P trình bày họ sẽ tự tham gia tố tụng để giải quyết vụ án.

Qúa trình giải quyết vụ án phía bị đơn có đơn yêu cầu thu thập tài liệu, chứng cứ về việc sao lục hồ sơ và bản đồ địa chính. Tại phiên tòa phía bị đơn đề nghị Tòa án không thu thập tài liệu chứng cứ trên. Xét thấy yêu cầu của bị đơn là không cần thiết và tại phiên tòa bị đơn cũng đề nghị không thu thập tài liệu, chứng cứ nên Tòa án không thu thập tài liệu, chứng cứ.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của ông Võ Thành P đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xử vụ án một cách khách quan, công bằng theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn bà H yêu cầu Tòa án xác định diện tích đất 48,6m² thuộc thửa 65b tờ bản đồ 48 xã P là đường đi chung và yêu cầu ông Võ Thành P chấm dứt hành vi cản trở lối đi chung của bà H.

Ông P cho rằng diện tích đất tranh chấp 48,6m² tại thửa đất số 28 tờ bản đồ 48 xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu của ông nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông nhưng ông không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của mình. Tại cấp phúc thẩm ông P đưa ra chứng cứ chứng minh là Bản đồ hiện trạng thửa đất số 3354/2016 ngày 29/3/2016 và 12205/2015 ngày 13/10/2015 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L2 cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án khác đối với thửa đất số 28 của ông P thể hiện hình thể con đường đất này hoàn toàn khác và phần đất tranh chấp được coi là thửa 65b này hoàn toàn không có trong bản đồ hiện trạng năm 2015, 2016 nêu trên nên không có sơ sở chứng minh phần diện tích đất tranh chấp thuộc phần đất giao thông của thửa 65b. Ngoài ra ông P còn cung cấp lời khai của một số người làm chứng ông Từ Bá T1, ông Hứa Ngọc T2, Ngô Chí H1, ông Lã Văn Q trình trình bày diện tích tranh chấp do gia đình ông P sử dụng để trồng điều và tràm từ trước đến nay.

Tuy nhiên, căn cứ Bản đồ hiện trạng số 994/2023 ngày 10/3/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh L2 thể hiện: phần diện tích đất tranh chấp 48,6m² được giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,6,7,1) thuộc thửa 65b tờ bản đồ 48 xã P là đất giao thông.

Tại công văn số 7765/VPĐKLT.ĐĐ ngày 17/8/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh L2 thể hiện: theo Bản đồ địa chính xã P thành lập năm 2010, ranh giới thửa đất số 28 tờ bản đồ 48 (bản đồ mới) tiếp giáp với đường giao thông. Do đó phần diện tích 48,6m² theo Bản đồ hiện trạng số 994/2023 do Văn phòng Đ – Chi nhánh L lập ngày 10/3/2023 không thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 48 xã P.

Từ đó có đủ cơ sở xác định phần đất tranh chấp không thuộc quyền sở hữu của ông P và là đất giao thông nên việc ông P cản trở bà H1 sử dụng đất này là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông P chấm dứt hành vi cản trở bà H1 sử dụng đường đi chung là có căn cứ.

Đối với sai sót của cấp sơ thẩm ghi bà Trần Thị H thành Nguyễn Thị H2, xét thấy đây không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên không cần thiết phải hủy án mà Tòa án cấp phúc thẩm sẽ điều chỉnh trong bản án phúc thẩm.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận đơn kháng cáo của ông P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí:

3.1 Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H2 được chấp nhận nên ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

3.2 Về án phí phúc thẩm: Ông P phải chịu phải chịu án phí do đơn kháng cáo của ông không được chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng: Ông Võ Thành P phải chịu 2.174.000 đồng chi phí tố tụng, bà Nguyễn Thị H2 đã tạm nộp số tiền này, vì vậy, ông P phải trả lại cho bà H2 2.174.000 đồng.

[5] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Quan điểm của luật sư tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Thành P. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 103/2023/DSST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Áp dụng Điều 169, Điều 248 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 170 Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H2 đối với bị đơn ông Võ Thành P về việc “Tranh chấp lối đi chung”.

    Buộc ông Võ Thành P chấm dứt hành vi cản trở bà Nguyễn Thị H2 đi lại đối với đường giao thông có diện tích 48,6m² thuộc thửa thửa số 65b, tờ bản đồ số 48 xã P theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 994/2023 ngày 10/3/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L2.

  2. Về chi phí tố tụng: Ông Võ Thành P phải chịu 2.174.000 đồng chi phí tố tụng, bà Nguyễn Thị H2 đã tạm nộp số tiền này, vì vậy, ông P phải trả lại cho bà H2 2.174.000 đồng.
  3. Về án phí:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Thành P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Thành P phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông P đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đồng Nai theo biên lai thu số 9992 ngày 03/10/2023. Ông P đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện L;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 109/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp lối đi chung

  • Số bản án: 109/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger