TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 109/2023/HS-ST Ngày 26-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Văn Luân
- Bà Cao Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Duy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2023/TLST - HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đặng H, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1995, tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T (đã chết) và bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ là Đỗ Thị H2; có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14-6-2023, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình (đã chết).
- Những người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T1 :
- Ông Lương Mạnh C (M), sinh năm 1947 (là chồng bà T1)
- Anh Lương Ngọc D, sinh năm 1973 (là con bà T1)
Đều có nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Anh Lương Ngọc N, sinh năm 1977 (là con bà T1); Nơi cư trú: Tổ F, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- Chị Lương Thị T2, sinh năm 1970 (là con bà T1); Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Chị Lương Thị H3, sinh năm 1982 (là con bà T1); Nơi cư trú: tổ D, phường N, thành phố G, tỉnh tỉnh Đắk Nông.
- Người đại diện theo ủy quyền cho ông C, anh N, chị T2 và chị H3: Anh Lương Ngọc D, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình (xin vắng mặt).
- Những người làm chứng:
- Anh Lương Ngọc H4, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Anh Lương Ngọc T3, sinh năm 1962 (vắng mặt)
- Bà Nhâm Thị B, sinh năm 1957 (vắng mặt)
Đều có nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 30-5-2023, tại đường Đ thuộc địa phận thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Nguyễn Đặng H, có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, biển số đăng ký 17B4-003.19 đi trên đường ĐH65A hướng từ xã C đi xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Khi đi đến ngã ba giao cắt giữa đường ĐH65A với đường trục thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình là nơi đường giao nhau cùng mức. Hoạt nhìn thấy bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952, trú tại thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình đi bộ cùng chiều đang đi từ bên phải sang bên trái đường (theo chiều đi của H) để tránh xe mô tô đi từ đường trục thôn Q, xã C đi ra. Do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không nhường đường cho người đi bộ qua đường nên phần đầu xe phía bên trái xe mô tô do H điều khiển đã đâm vào người bà T1 làm bà T1 ngã ra đường. Hậu quả bà T1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, tỉnh Hưng Yên sau chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H. Do thương tích nặng không thể cứu chữa nên gia đình đưa bà T1 về nhà, đến 10 giờ 50 phút ngày 31-5-2023 bà T1 chết tại gia đình.
Tại bản kết luận giám định số 799/KLGĐTT-KTHS ngày 08-6-2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Khám ngoài: Trên tử thi có vết xây sát da, rách da, sưng nề, bầm máu tại vùng đầu và toàn thân; khám trong: Vỡ xương sọ vùng chẩm thái dương phải, chảy máu não. Kết luận: Nạn nhân Nguyễn Thị T1 chết do chấn thương sọ não”.
Bản cáo trạng số 105/CT-KSHH ngày 02-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Đặng H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Đặng H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đặng H như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đặng H phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đặng H từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại về việc gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ khoản nào tiền nào khác. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo H 01 giấy phép lái xe hạng hạng A1, số [...] mang tên Nguyễn Đặng H. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Đặng H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 31-5-2023; Biên bản khám nghiệm tử thi do Phòng K Công an tỉnh T lập ngày 31-5-2023; Biên bản khám nghiệm phương tiện do Công an huyện H lập ngày 02-6-2023; Bản kết luận giám định tử thi số 799/KLGĐTT-KTHS ngày 08-6-2023 và Bản kết luận giám định số 845 ngày 13-6-2023 của Phòng K Công an tỉnh T; Lời khai của những người làm chứng anh Lương Ngọc H4, ông Lương Ngọc T3, bà Nhâm Thị B, ông Phạm Văn H5; Lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Lương Ngọc D cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 30-5-2023, tại ngã ba giao cắt giữa đường ĐH65A với đường trục thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Đặng H, có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, biển số đăng ký 17B4-003.19, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không nhường đường cho người đi bộ qua đường nên phần đầu xe phía bên trái đã va chạm với người bà Nguyễn Thị T1 đi bộ sang đường làm bà T1 ngã xuống đường đến ngày 31-5-2023 bà T1 chết.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đặng H đã vi phạm khoản 4 Điều 11, khoản 3, khoản 6 Điều 5, Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây tai nạn, hậu quả làm chết 01 người.
Vì vậy, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ
4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.
Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn.”
Điều 5. Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận;
6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.”
Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
...;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Đặng H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng, đối với hành vi phạm tội của bị cáo H6 thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đặng H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào . Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn, hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân; hơn nữa bị hại cũng có một phần lỗi khi đi bộ sang đường thiếu chú ý quan sát do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm bồi thường: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận, gia đình bị hại đã nhận một phần bồi thường, khắc phục hậu quả, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào khác. Vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Foture FI, màu đen, xám, vàng Biển số đăng ký 17B4-003.19; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007407 mang tên Nguyễn Đặng H, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số AA25/0141491. Qua điều tra, xác minh xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại các tài sản trên cho bị cáo H là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Nguyễn Đặng H cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã thu và lưu tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp nên cần chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đặng H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đặng H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26-10-2023). Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
3.Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại về việc những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường bất kỳ khoản nào tiền khác.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đặng H 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Nguyễn Đặng H (kèm theo biên bản bàn giao hồ sơ vụ án ngày 03-10-2023).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đặng H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đặng H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Bích Thủy |
Bản án số 109/2023/HS-ST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)
- Số bản án: 109/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đặng H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
