|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 109/2023/DS-PT Ngày: 03 - 11 - 2023. V/v: Tranh chấp ranh giới đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam
Bà Trần Thị Mỹ Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Bích Thủy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:Bà Nguyễn Thị Phương Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 10 năm 2023, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 81/2022/TLPT-DS ngày 25/10/2022 về việc “Tranh chấp ranh giới đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2023/QĐXXPT-DS ngày 05 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 264/2023/QĐPT-DS ngày 04/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Phan Bá T, sinh năm 1959 (có mặt).
Trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Phan Văn K, sinh năm 1983. Trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Đình T1, sinh năm 1968 (có mặt).
và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1969 (có mặt).
Đều trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Mai Sỹ L, văn phòng L1 và cộng sự. Địa chỉ: P Chung cư A, xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị T2, sinh năm 1959;
Trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022 về việc“Tranh chấp lấn chiếm đất đai” của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, vụ án có nội dung:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 27/7/2020, tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và nguyên đơn trình bày:
Gia đình ông mua đất năm 1998, tại khu vực vườn H. Khi mua gia đình ông mua của UBND xã D, huyện D hai lô đất với tổng diện tích là 660m². Lúc đó có 08 hộ gia đình mua, bao gồm cả hộ anh T1, chị M. Sau thời gian này, gia đình anh T1, chị M làm nhà ở và công trình phụ lấn sang phần đất của gia đình ông, khi biết bị lấn chiếm gia đình ông đã yêu cầu ông T1, bà M dừng xây dựng không lấn sang phần đất gia đình nhưng ông T1, chị M không hợp tác. Năm 2017 ông T1, chị M tiếp tục xây dựng nhà cố định và tiếp tục lấn chiếm sang nhà ông phần đất 5cm, và phần mái nhà là 25cm. Sau khi sự việc, gia đình yêu cầu UBND xã D, tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả, xã D làm không đúng trách nhiệm của mình. Sau khi làm việc UBND xã đã xác minh mốc giới theo QSD đất và xác định số đo theo biên bản và các bên đã ký kết biên bản này. Tuy nhiên, sau một tuần thì gia đình ông T1 có phản hồi không thống nhất với biên bản này và xã đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Vậy nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu buộc gia đình ông Phạm Đình T1, bà Hoàng Thị M giải quyết rõ ràng cho hai gia đình, buộc ông T1 và bà M tháo dỡ phần vi phạm phía Đông Nam khoảng 40cm (Cả mái nhà) diện tích khoảng 2,4m² trả lại phần diện tích đất cho gia đình ông.
Tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà bị đơn ông T1 và bà M trình bày:
Đất gia đình ông bà mua của UBND xã vào năm 2001 tại vườn H xóm A cũ có chiều dài: phía Nam và Phía Bắc dài 30m, phía Đông dài 13m, phía Tây dài 11m, diện tích được cấp GCN là 360m². Vì thửa đất bị xéo và là vùng trũng sâu, cây cối um tùm nên khi đo đạc trước đây đo bằng dây nên diện tích thừa thiếu thế nào gia đình ông, bà không biết. Sau này ông T có viết biên bản có ghi đất nhà anh, chị lấn chiếm của nhà ông T phía Đông sang 0,25m dài 15m một phía 25cm đến 30cm và đề nghị giải quyết tình cảm nhưng gia đình tôi không ký. Sau đó UBND xã D tiến hành hòa giải, tiến hành đo đạc lại đất thì số đo dài rộng nhà ông T có dư so với so với diện tích mà ông T cho rằng từ đầu mua 2 suất có chiều dài 22m, sâu 30m. Tuy nhiên, theo hồ sơ tại huyện thì đất nhà ông T được cấp rộng 16,5m sâu 30m. Tại Ủy ban nhân dân xã và ông T trình bày ông nhận 02 phần đất vì vậy ông bà yêu cầu làm rõ vấn đề này.
Ông T cho rằng gia đình ông bà lấn chiếm đất của gia đình ông là không đúng, vì hiện nay đất ông T cả chiều rộng và sâu đều dư. Đề nghị Tòa án xem xét đúng bản chất sự việc. Ông T1 và bà M không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tại các bản tự khai và tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên bà Phạm Thị T2 trình bày: Thống nhất với đơn khởi kiện và lời trình bày của ông T và đề nghị Tòa án buộc ông T1 và bà M tháo dỡ phần vi phạm phía Đông Nam khoảng 40cm (Cả mái nhà) diện tích khoảng 2,4m² trả lại phần diện tích đất cho vợ chồng ông T.
Với nội dung trên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2022/DS-ST ngày 28/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu đã Quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 92, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc bị đơn lấn chiếm 2,4m².
Giao phần diện tích đất đã xây tường và công trình phụ của ông T1, bà M trên đất đang tranh chấp cho bị đơn ông T1 và bà M sử dụng và ông T1, bà M phải trả lại giá trị thị trường cho ông T, bà T2 là 1,6m² x 3.000.000 đồng = 4.800.000 đồng (đã đính chính).
Vị trí kích thước phần diện tích lấn chiếm đã xây tường nhà và các công trình phụ (là 1,6m) được thể hiện tại sơ đồ đo thửa đất.
Buộc ông T1 và bà Minh T3 tháo dỡ phần via nhà đã lấn chiếm sang đất ông T, bà T2 theo sơ đồ thửa đất.
Ông T, bà T2 và ông T1, bà M tự liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chỉnh lại mốc giới, ranh giới.
Buộc ông T1, bà M hoàn trả cho ông T số tiền xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Ngày 29/4/2022 nguyên đơn ông Phan Bá T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu ông T1, bà M phải trả lại mặt bằng phần đất lấn chiếm, giá đất tại thị trường từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Ngày 06/5/2022 bị đơn ông Phạm Đình T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, ông đã xây dựng nhà đúng ranh giới, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Bá T.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Đề nghị tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn làm trong hạn luật định, nội dung và hình thức đơn phù hợp quy định của pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 74, 308, 309, 313 Bộ luật tố tụng dân sự,chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà phúc thẩm. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự là đầy đủ và có căn cứ. Ngày 21/7/2023 ông Phan Bá T có đơn đề nghị triệu tập ông Nguyễn T4 - Chủ tịch UBND xã D, ông Hồ H –Phó chủ tịch UBND xã D và ông Nguyễn Thành Đ – Cán bộ địa chính xã D tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vì trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị đơn đã tự ý tháo dỡ hiện trường nhưng chính quyền địa phương đã không ngăn chặn kịp thời. Xét thấy, những người mà nguyên đơn yêu cầu là những người thực hiện nhiệm vụ công vụ tại địa phương, gia đình bị đơn đã tháo dỡ phần công trình mà bản án sơ thẩm đã xác định là lấn chiếm phần khoảng không, phần ranh giới giữa hai thửa đất được giữ nguyên, nên không ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng theo yêu cầu của nguyên đơn.
[2] Về nguồn gốc các thửa đất có tranh chấp: Ông Phan Bá T và ông Phạm Đình T1 mua đất tại khu vực vườn H xã D, huyện D từ năm 2003. Đến ngày 18/3/2005 ông Phạm T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 944215 đối với thửa đất số 17404-502 tờ bản đồ số 111-65, diện tích 360m². Cùng ngày 18/3/2005 ông Phan Bá T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 944214 đối với thửa đất số 17404-501 tờ bản đồ số 111-65, diện tích 660m². Cả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều được cấp theo Quyết định số 311/QĐ-UB ngày 18/3/2005 của Ủy ban nhân dân huyện D. Đến ngày 12/6/2017 ông Phạm Đình T1 và bà Hoàng Thị M được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 062880 đối với thửa đất số 43 tờ bản đồ 27 diện tích 360m². Cùng ngày 12/6/2017 ông Phan Bá T và bà Phạm Thị T2 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 062879 đối với thửa đất số 44 tờ bản đồ 27 diện tích 660m². Quá trình làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều được hai gia đình ký xác nhận ranh giới đất.Như vậy các thửa đất số 43 và 44 được UBND huyện D, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguồn gốc Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đấtlà có căn cứ và hợp pháp.Nguyên đơn, bị đơn không có khiếu nại gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện D. Quá trình sử dụng đất do các bên không thống nhất xác định được ranh giới sử dụng đất giữa hai bên nên xảy ra tranh chấp.
[3] Về ý kiến không chấp nhận kết quả đo thẩm định tại chỗ ngày 14/6/2023. Nguyên đơn cho rằng kết quả đo đạc giữa hai lần có kết quả khác nhau, khi đo đã lấn sang đất gia đình ông 15cm, gây bất lợi cho gia đình ông. Do đó nguyên đơn không chấp nhận kết quả thẩm định ngày 14/6/2023. Xét thấy, việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/6/2023 là theo yêu cầu của đương sự và thực tế hiện trạng thửa đất đã có sự thay đổi do nâng cấp đường liên huyện đã lấy một phần đất lưu không, bị đơn đã tháo dỡ một phần tài sản nằm trên đất tranh chấp. Văn phòng Đ2 chi nhánh huyện D thực hiện việc đo đạc để xác định diện tích và ranh giới được cấp quyền sử dụng đất là đúng quy định. Việc hai lần cho kết quả khác nhau là do ông T1 xác định vị trí ranh giới đất không cùng một vị trí.
Do kết quả đo đạc của một cơ quan giữa hai lần khác nhau nên không có căn cứ xem xét, ngày 28/7/2023 ông Phan Bá T đã đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ2 đo đạc lại là có căn cứ.
Do đó Hội đồng xét xử căn cứ kết quả đo đạc ngày 15/9/2023 có kết quả đo đạc ngày 29/9/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ2 để giải quyết vụ án.
[4] Về diện tích đất có tranh chấp: Theo sơ đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1, bà M và ông T, bà T2 thì ranh giới giữa đất của ông T1, bà M và ông T, bà T2 là một đường biên thẳng kéo dài từ Đ1 sang T.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và trích đo sơ đồ thửa đất lập ngày 04/08/2021, hiện tại ranh giới giữa thửa đất ông T, bà T2 và ông T1, bà M là đường gấp khúc, không phải đường thẳng.Cụ thể tại ranh giới thửa đất ông T, bà T2 và ông T1, bà M là bờ tường gắn liền với nhà và các công trình phụ của ông T1 cụ thể các đoạn tường được xây dựng như sau: Đoạn 1 từ mép đất phía Đông giữa đất ông T1 và ông T là bờ tường đá hộc được xây dựng năm 2002 dài 3m, tiếp đến là bờ tường sò gắn liền với công trình phụ dài 11,7m xây năm 2003, tiếp đến là bờ tường sò gắn liền với nhà bằng dài 3,36m xây dựng năm 2016; tiếp là bờ tường sò gắn liền với nhà bằng dài 4m có chiều dài 4m, cao 5,2m. Tiếp là bờ tường sò gắn liền với nhà cấp 4 dài 4m. Trên không có mái via.Tại cạnh giáp đất nhà ông T1 và ông T, ông T có xây dựng bờ tường sò dài 11,4m kéo dài từ điểm phía Đông của thửa đất.
Theo Biên bản thống nhất xác định hiện trạng tranh giới, mộc giới ngày 15/9/2023 các bên đương sự thống nhất các điểm lấy mốc đo theo hiện trạng của thửa đất số 43 và 44 tờ bản đồ số 27, các điểm lấy mốc đo được đánh dấu bằng sơn đỏ (có bản ảnh kèm theo). Trên thửa đất số 43 gia đình ông T1 bà M đã xây dựng nhà ở hai tầng và các công trình phụ khác. Thửa đất số 44 chưa có công trình xây dựng đang trồng hoa màu, phần mái via nhà lấn chiếm sang đất ông T (theo bản án sơ thẩm) đã được ông T1 tháo dỡ hiện không còn. Giữa hai thửa đất còn giữ nguyên bờ tường sò do ông T xây ốp sát tường nhà ông T1. Phía Bắc thửa đất số 44 giáp thửa 41 của ông D có bờ móng xây bằng đá do ông D xây.
Theo kết quả đo đạc thửa đất đo ngày 15/9/2023 có kết quả ngày 29/9/2023 thể hiện: Phần diện tích thửa đất số 43 và 44 được thể hiện bằng nét kẻ màu đỏ cam, thửa đất số 43 có diện tích 360m², thửa đất số 44 có diện tích 660m². Cả hai thửa đất đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ranh giới do ông T xác định được kẻ bằng nét đứt đoạn màu đen có một phần đúng nằm trùng lên đường ranh giới đất được cấp màu đỏ cam, phần còn lại có lấn sang thửa 43 0,6m². Ranh giới mà ông T1 xác định được kẻ màu xanh có diện tích lớn hơn diện tích đất được cấp 4,8m². Do đó có căn cứ xác định phần diện tích 4,8m² này thuộc về thửa đất số 44.
Theo yêu cầu khởi kiện ông T có yêu cầu trả lại diện tích nhỏ hơn nhưng số đo đất lấn chiếm lớn hơn, nguyên nhân do nguyên đơn đo và tính diện tích bằng phương pháp thủ công là chưa chính xác, nên căn cứ kết quả đo hiện trạng để giải quyết vụ án.
Bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc bị đơn lấn chiếm 2,4m² đất. Nhưng lại buộc trả lại bằng tiền tương ứng diện tích 1,6m² là mâu thuẫn. Xét thấy đây là phần lỗi khách quan do kết quả đo đạc không thống nhất, cấp phúc thẩm có thể khắc phục được.Việc diện tích đất lấn chiếm lớn hơn diện tích yêu cầu khởi kiện là do bị đơn xác định ranh giới không nhất quán là lỗi của bị đơn. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm. Buộc ông Phạm Đình T1 và bà Hoàng Thị M phải trả lại cho ông Phan Bá T và bà Phạm Thị T2 diện tích đất lấn chiếm là 4,8m²(có sơ đồ kèm theo).
[5] Về tài sản trên đất có tranh chấp:
Sau khi xét xử sơ thẩm, phần mái via nhà ông T1 có lấn sang phần khoảng không trên đất của nguyên đơn đã được bị đơn tháo dỡ.
Theo ranh giới tại điểm đo do ông T1 xác định so với ranh giới thửa đất số 43 đã được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã lấn sang phía Bắc (sang phía thửa 44) cạnh phía tây thửa đất là 0,19m (phía giáp đường nhựa), cạnh phía Đông thửa đất 0,14 m kéo thẳng từ trước ra sau có diện tích 4,8m², phần diện tích này không được cấp quyền sử dụng đất cho thửa đất số 43, được xác định là phần đất thửa 43 lấn sang thửa 44. Phần móng nhà và bờ tường công trình phụ của ông T1 và bà M được xây dựng đúng ranh giới không nằm trên đất lấn chiếm. Phần bờ tường sò dài 11,4m từ mép phía Đông thửa đất sang phía Tây thửa đất do ông T xây dựng ốp sát tường công trình nhà ông T1 có một phần nằm trên phần đất đã được giao cho ông T1 0,6m² nên cần buộc ông T phải tháo dỡ. Phần đất bị đơn lấn chiếm có thể giao lại bằng đất. Do đó, sửa bản án sơ thẩm về giao đất và tài sản trên đất có tranh chấp. Buộc ông T1 và bà M phải tháo dỡ phần tường xây trên đất lấn chiếm tại phía Tây thửa đất 0,19m (phía giáp đường nhựa, góc giáp thửa đất số 44).
Đối với kháng cáo về giá đất thì trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm các đương sự không yêu cầu định giá lại, Hội đồng xét xử xét phấy phần diện tích đất ông T1 phải giao lại có thể giao bằng đất nên không cần thiết phải định giá lại.
Từ các nhận định trên, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Phan Bá T. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Phạm Đình T1 và bà Hoàng Thị M.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá:
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ngày 04/8/2021 ông Phan Bá T đã nộp 5.000.000 đồng bản án sơ thẩm đã buộc ông T1 và bà M phải chịu là có căn cứ. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/6/2023 ông Phạm Đình T1 đã nộp 4.000.000 đồng, yêu cầu của ông T1 là có căn cứ cần buộc ông T phải chịu. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/9/2023 ông Phan Bá T đã nộp 4.400.000 đồng, ông T yêu cầu thẩm định đo đạc lại là có căn cứ, do đó cần buộc ông T1 và bà M phải chịu.
Do đó cần buộc ông T phải chịu 4.000.000 đồng (đã nộp 9.400.000 đồng). Ông Phạm Đình T1 và bà Nguyễn Thị M1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá 9.400.000 đồng (đã nộp 4.000.000 đồng) cần buộc ông T1 và bà M1 phải hoàn trả cho ông T 5.400.000 đồng.
[7] Về án phí sơ thẩm: Ông T1 và bà M1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự.
Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn và bị đơn kháng được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 74, 308, 309, 313 Bộ luật tố tụng Dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 92, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013.
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại đất lấn chiếm.
Buộc ông Phạm Đình T1 và bà Hoàng Thị M giao lại cho ông Phan Bá T và bà Phạm Thị T2 diện tích 4,8m² đất có ranh giới như sau: Từ góc phía Tây (phía giáp đường nhựa liên xã) thửa đất số 44, tính từ điểm mốc đo ngày 15/9/2023 kéo về phía Nam sang phía thửa đất số 43 đến mép tường nhà ông T1 là 0,19m. Phía Đông thửa đất số 44 tính từ điểm mốc đo ngày 15/9/2023 kéo về phía Nam sang phía thửa đất số 43 là 0,14m. Ranh giới giữa hai thửa đất kéo dài từ hai điểm được xác định như trên kéo thành một đường thẳng từ Đ1 sang T (có sơ đồ kèm theo).
Ông T, bà T2 được nhận lại diện tích 4,8m² đất do ông T1, bà M giao lại.
Các bên phảo tự tháo dỡ phần công trình xây dựng trên đất lấn chiếm.
Buộc ông T, bà T2 phải tháo dỡ phần tường bao xây ốp sát móng tường nhà ông T1 nằm trên đất giao cho ông T1.
Buộc ông T1 và bà M phải Tháo dỡ phần tường xây dựng trên đất ông T và bà T2 tại điểm mốc đo phía Tây thửa đất (ranh giới giữa hai thửa đất phía giáp đường nhựa liên xã)
- Buộc ông Phan Bá T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá 4.000.000 đồng (đã nộp 9.400.000 đồng). Ông Phạm Đình T1 và bà Nguyễn Thị M1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 9.400.000 đồng (đã nộp 4.000.000 đồng). Ông T1 và bà M1 phải hoàn trả cho ông T 5.400.000 đồng.
- Về án phí: Buộc ông T1 và bà M1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn và bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông T số tiền nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0001911 ngày 02/3/2021 và 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0001768 ngày 07/6/2022. Tạm giữ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T1 bà M1 đã nộp theo biên lai số 0001797 ngày 17/6/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Diễn Châu để đảm bảo thi hành án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại đất lấn chiếm.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;
Các nội dung của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Sơn |
Bản án số 109/2023/DS-PT ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ranh giới đất
- Số bản án: 109/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DSPT
