|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 109/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25/3/2021 V/v tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung". |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Kim Xuyến
- Ông Huỳnh Thanh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 755/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2021/QĐ-ST ngày 18/02/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 177/QĐ-TA ngày 05/3/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1988; địa chỉ: số 254, tổ 10, ấp K.T 1, xã K.T, huyện C.M, tỉnh An Giang, (Có mặt).
Bị đơn: Anh Phạm Nhựt T, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp K.T 1, xã K.T, huyện C.M, tỉnh An Giang, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2020, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Tr trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tr và ông Phạm Nhựt T do mai mối cả hai tự tìm hiểu và kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K.T ngày 03/8/2010. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 3/2017, thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T đánh bạc, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi và ly thân đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm không còn, chị Trúc yêu cầu ly hôn với anh Tiến.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Thị Ngọc Đ, sinh ngày 23/7/2006 và Phạm Nhựt Đ1, sinh ngày 29/8/2014. Hiện, cháu Đ đang chung sống với anh Tiến; cháu Đông chung sống với chị Tr. Khi ly hôn chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Đ1, đồng ý để cháu Đ cho anh Đ1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yều cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp:
- Giấy khai sinh (bản sao) mang tên Phạm Thị Ngọc Đ, sinh ngày 23/7/2006.
- Giấy khai sinh (bản sao) mang tên Phạm Nhựt Đ1, sinh ngày 29/8/2014.
- Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính) mang tên Phạm Nhựt T, Nguyễn Thị Tr.
Tòa án thụ lý vụ án, anh Phạm Nhựt T được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp hòa giải để động viên các bên có thể giải quyết các bất đồng quan điểm, hàn gắn đoàn tụ với nhau nhưng phía bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập nên không thể tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Phạm Nhựt T tuy được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Tr và anh T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Tr là có căn cứ.
[3] Về con chung: Để ổn định cuộc sống cho các cháu, tiếp tục giao cháu Đ1 cho chị Tr và giao cháu Đ cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tr. Cho chị Nguyễn Thị Tr được ly hôn với anh Phạm Nhựt T.
- Về con chung: Giao con chung Phạm Thị Ngọc Đ, sinh ngày 23/7/2006 cho anh Phạm Nhựt T tiếp tục chăm sóc, giáo dục và giao cháu Phạm Nhựt Đ1, sinh ngày 29/8/2014 cho chị Tr được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Tr, anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Huy Phong |
Bản án số 109/2021/HNGĐ-ST ngày 25/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 109/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TAND cấp sơ thẩm, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tr. Cho chị Nguyễn Thị Tr được ly hôn với anh Phạm Nhựt T. Giấy chứng nhận kết hôn số 86, Quyển số 01, do Ủy ban nhân dân xã K.T, huyện C.M cấp ngày 03/8/2010 cho Nguyễn Thị Tr với anh Phạm Nhựt T, không còn giá trị pháp lý. Về con chung: giao con chung Phạm Thị Ngọc Đ, sinh ngày 23/7/2006 cho anh Phạm Nhựt T tiếp tục chăm sóc, giáo dục và giao cháu Phạm Nhựt Đ1, sinh ngày 29/8/2014 cho Tr được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Tr, anh T không ai cấp dưỡng nuôi con chung.
