Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108A/2024/HS-ST

Ngày: 11/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tuấn;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Diệu Hiền;

Ông Trần Thiện Đạo;

Ông Nguyễn Hữu Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngô Thị Trúc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 10 và 11 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Nhật Lê M; sinh năm 1982; tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: 1 đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: 186/22/40 đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Xuân N sinh năm 1960 (đã chết); không rõ mẹ.

Tiền án: 02 tiền án

  • - Bản án số 99/HSST ngày 29/7/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2008. Chưa đóng án phí.
  • - Bản án số 115/2017/HSST ngày 14/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/11/2019. Chưa đóng án phí.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 256/HS-ST ngày 26/11/1999 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/7/2001.

2

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2024 cho đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Thái H – Luật sư thuộc văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh K; Địa chỉ: Đường L, Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Lê Văn L (chết ngày 22/6/2024).

Đại diện hợp pháp của ông Lê Văn L: Bà Trần Thị T, sinh năm 1936; Địa chỉ: Số A đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị T: Bà Lê Thị Á, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số C đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

  1. Bà Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số A đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Bảo Q, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số A đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thùy H1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số A đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 2000; Địa chỉ: Số D T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Nhật Lê M và Lê Văn L là hàng xóm cùng trú tại hẻm A đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Cả hai thường uống rượu say rồi kình cãi nhau.

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 22/6/2024, Lê đi nhậu về thì thấy M đang ngồi uống rượu một mình trong nhà. Lê đến trước cổng nhà M chửi M thì M cũng chửi lại. Sau đó, M đi vào nhà bếp lấy 01 (một) cây kéo, còn Lê nhặt 01 (một) mảnh gạch men ngoài đường rồi cả hai xông vào đánh nhau trong sân nhà M tại địa chỉ 1 đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Trong lúc đánh nhau, L dùng viên gạch men đánh M làm M bị thương ở vùng đầu, tay trái; còn M cầm kéo đâm 01 (một) nhát trúng ngực của Lê làm Lê gục xuống tại chỗ. Nghe thấy có tiếng ồn ào đánh nhau, anh Lê Bảo Q và chị Lê Thị Thanh T1 (là em ruột của anh L) chạy vào sân nhà M can ngăn thì M cầm kéo đâm trúng tay trái của chị T1 gây thương tích. Thấy vậy, anh Q dìu chị T1 chạy ra khỏi cổng nhà M. M tiếp tục dùng kéo đâm nhiều cái vào lưng, đầu, mặt của Lê làm cây kéo bị gãy lưỡi và một bên cán làm anh L tử vong. Lúc này, M kéo người anh Lê R ngoài đường rồi đóng cổng lại, lấy nước dội máu trong sân và vứt lưỡi kéo dùng để đâm L ra phía sau nhà. Sau đó, M bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp.

3

Ngày 01/10/2024, bà Lê Thị Thanh T1 có đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự đối với Võ Nhật Lê M về hành vi gây thương tích.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 362-2024/KLGĐTT-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Nguyên nhân tử vong của Lê Văn L là do suy tuần hoàn, hô hấp cấp do vết thương thấu ngực trái làm thủng phổi, đứt bán phần quai động mạch chủ.

Tại Bản kết luận giám định số 417/2024/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Mẫu máu chứa trong ống nhựa của tử thi Lê Văn L gửi giám định có nồng độ Ethanol (cồn): 223,7mg/100ml máu.

Tại Bản kết luận giám định ADN số 3.209-2024/KLGDADN-TTPY ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố H kết luận: ADN của Lê Văn L hiện diện trong dấu vết ký hiệu “Mẫu nước thu trong thau nhựa”, vết nâu trên cán kéo, vết nâu trên mảnh gạch men. ADN của Võ Nhật Lê M có hiện diện trong vết nâu trên quần đùi; không hiện diện trong “Mẫu nước thu trong thau nhựa”, vết nâu trên cán kéo, vết nâu trên mảnh gạch men.

Tại Bản kết luận giám định trên cơ thể người sống số 484/24/KLTTCT-PYKH ngày 07/10/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: Vùng cẳng tay trái có 01 (một) vết sẹo kích thước trung bình tỷ lệ thương tật 02%; vùng cẳng tay trái có 01 (một) vết sẹo kích thước nhỏ tỷ lệ thương tật 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị Thanh T1 tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần trăm).

Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKSKH-P1 ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Võ Nhật Lê M về tội “Giết người” quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giữ nguyên kết luận truy tố bị cáo Võ Nhật Lê M về tội “Giết người” theo điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và điểm d khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo tù chung thân đối với tội “Giết người” và từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là chung thân.
  • - Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về tội danh cũng như mức hình phạt.
  • - Bị cáo Võ Nhật Lê M khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

4

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt một số người làm chứng, xét thấy những người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Theo cáo trạng truy tố cho thấy, tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 22/6/2024, tại nhà số A đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, Võ Nhật Lê M đã sử dụng 01 (một) cây kéo đâm nhiều nhát vào vùng ngực, lưng, đầu, mặt của anh Lê Văn L làm anh L tử vong; khi chị Lê Thị Thanh T1 vào can ngăn thì bị M dùng kéo đâm vào tay trái của chị T1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% (Ba phần trăm).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 và điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự). Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến thân thể, sức khỏe và tính mạng của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, thể hiện tính côn đồ hung hãn. Bản thân bị cáo có hai tiền án chưa được xóa án tích và một bản án đã được xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo cần áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 123 và điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo cần xử phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vĩnh viễn để phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy

5

định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của nhà nước và yên tâm cải tạo.

Đối với Lê Văn L đã có hành vi dùng miếng gạch men gây thương tích cho Võ Nhật Lê M. Tuy nhiên, L đã tử vong nên không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án: 01 (một) mẫu dấu vết màu nâu đỏ tại vị trí ký hiệu M1; 01 (một) mẫu dấu vết màu nâu đỏ tại vị trí ký hiệu M2; 01 (một) chiếc dù màu xanh, 01 (một) miếng gạch men màu trắng; 01 (một) cán kéo màu bạc; 01 (một) quần đùi màu xanh trắng: Đây là những vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.

Vật chứng trên đều được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào: Điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm d khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Nhật Lê M.

[2] Xử phạt:

Bị cáo Võ Nhật Lê M tù chung thân về tội “Giết người” và 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là chung thân. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/6/2024.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiêu hủy 01 (một) mẫu dấu vết màu nâu đỏ tại vị trí ký hiệu M1; 01 (một) mẫu dấu vết màu nâu đỏ tại vị trí ký hiệu M2; 01 (một) chiếc dù màu xanh, 01 (một) miếng gạch men màu trắng; 01 (một) cán kéo màu bạc; 01 (một) quần đùi màu xanh trắng.

Vật chứng trên đều được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

[5] Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

6

và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND cấp cao Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - Vụ GĐKT1 - TAND tối cao;
  • - Bị cáo;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108A/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm về tội giết người và cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 108A/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người và Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Nhật Lê Minh giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger