Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108A/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19.3.2025.

“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và bà Bùi Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 568/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê B, sinh ngày 09/12/1992

Địa chỉ cư trú: Xóm T, xã N, huyện N (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 13/12/1991

Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm T, xã N, huyện N (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ nguyên đơn anh Lê B trình bày:

Tôi và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 15/10/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2024 chị H đi lao động ở Ba Lan.

Kể từ đó vợ chồng xẩy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và không còn quan tâm để ý đến nhau nữa. Nay tôi xét thấy không còn tình cảm với chị H nữa và mâu thuẫn của chúng tôi cũng đã trầm trọng, không thể khắc phục được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị H.

Về con chung: Tôi và chị H có 02 con chung là Lê Nguyên B1, sinh ngày 11/5/2015 và Lê Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 18/11/2021. Sau khi ly hôn tôi có nguyên vọng trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung đến lúc trưởng thành. Về cấp dưỡng tôi không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do tính chất công việc và đi lại khó khăn nên anh Lê B có đơn đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt anh.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H: Do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên anh Lê B không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho bố mẹ của chị Nguyễn Thị H là ông Nguyễn Bá L và bà Phạm Thị Đ thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để ông thông báo cho chị H và đề nghị chị H nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh B. Ông Nguyễn Bá L và bà Phạm Thị Đ cho biết: Hiện chị H đã đi lao động, sinh sống, làm việc tại Ba Lan thường xuyên thay đổi công việc và thỉnh thoảng liên lạc về với ông bà qua mạng xã hội. Tuy nhiên, ông L và bà Đ không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài cho Tòa án biết. Theo ông L và bà Đ trình bày chị H không có ý kiến gì và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm tại nơi cư trú của chị H trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, chị H không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, việc thu thập chứng cứ Tòa án thực hiện đúng các quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lê B; cho anh Lê B được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Lê Nguyên B1, sinh ngày 11/5/2015 và Lê Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 18/11/2021 cho anh Lê B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

2

- Về án phí: Anh Lê B phải chịu án phí theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lê B hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Nguyễn Thị H hiện cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, chị H có địa chỉ cư trú tại xóm T, xã N, huyện N (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H hiện đang ở Ba Lan, không có địa chỉ cụ thể. Ông Nguyễn Bá L và bà Phạm Thị Đ (là bố đẻ của chị H) đã thông báo cho con gái về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Bá L và bà Phạm Thị Đ cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H ở Ba Lan nhưng ông L và bà Đ không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của chị H trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh B nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Lê B vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê B và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, hai bên xa cách không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng tồn tại chỉ là hình thức. Anh Lê B có nguyện vọng được ly hôn với chị H. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh B và chị H không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Lê B được ly hôn với chị Nguyễn Thị H là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Anh Lê B và chị Nguyễn Thị H có 02 con chung là cháu Lê Nguyên B1, sinh ngày 11/5/2015 và Lê Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 18/11/2021, hiện các cháu đang ở với anh B. Hiện nay chị H đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chưa có ý kiến. Anh B đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, giao con chung là cháu Lê Nguyên B1 và Lê Nguyễn Tuệ N cho anh Lê B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Lê B không yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn anh Lê B phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104; 122; Điều 123; Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 228; Điều 479 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê B. Anh Lê B được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao 02 con chung là Lê Nguyên B1, sinh ngày 11/5/2015 và Lê Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 18/11/2021 cho anh Lê B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lê B chưa yêu cầu và chị Nguyễn Thị H chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc căn cứ theo quy địnhh của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Anh Lê B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0013587 ngày 29 tháng 11 năm 2024.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Lê B vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Chị Nguyễn Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nghi Xuân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Quốc Sơn

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108A/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 108A/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu khởi kiện ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger