TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1088/2024/HC-PT Ngày: 25 - 9 - 2024 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán: Ông Phan Tô Ngọc
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 606/2024/TLPT-HC ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư".
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2024/HC-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1074/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1940.
Địa chỉ: số I P, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1989. (có mặt)
Địa chỉ: D V, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có văn bản xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: số H L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- + Ông Lê Dương B, Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V. (có văn bản xin xét xử vắng mặt)
- + Ông Lê H, Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1964. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1967. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm 1969. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Minh H2, sinh năm 1974. (vắng mặt)
Địa chỉ: số E P, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ: E, khu Á, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ: số C N, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ: số I P, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 19/11/2021, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố V ban hành Quyết định số 13212/QĐ-UBND về việc thu hồi 213,3m² đất do ông (bà) Nguyễn Văn N - Phạm Thị M đang sử dụng tại Phường C, thành phố V để thực hiện dự án đường T (nối dài).
Cùng ngày 19/11/2021, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 13233/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Nguyễn Văn N - Phạm Thị M do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường T (nối dài).
Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ: 1.884.682.870 đồng:
- Bồi thường diện tích 178m² đất nông nghiệp: 1.128.164.000 đồng.
- Các khoản bồi thường khác: 1.800.000 đồng.
- Hỗ trợ 100% nhà, vật kiến trúc xây dựng năm 1992: 754.718.870 đồng.
- Không hỗ trợ giá nhà 01 tầng loại 2: 35,5m² do xây dựng trên diện tích đất không đủ điều kiện bồi thường.
- Tái định cư/Đất ở mới: Không.
(Không bồi thường diện tích 35,5m² đất không thuộc diện tích đất kê khai đăng ký nên không đủ điều kiện bồi thường theo Điều 82 Luật Đất đai 2013).
Ông N, bà M không đồng ý đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy một phần Quyết định số 13233/QĐ-UBND ngày 19/11/2021; buộc UBND thành phố V bồi thường toàn bộ diện tích đất thu hồi 213,3m² theo giá đất ở và giao đất tái định cư cho ông N, bà M theo quy định pháp luật.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 64/2022/HC-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông N và bà M, hủy phần diện tích đất và tài sản trên đất không được bồi thường 35,5m², hủy phần bồi thường giá trị quyền sử dụng đất tại Quyết định số 13233/QĐ-UBND; buộc UBND thành phố V xác định lại 178m² đất thu hồi là đất ở để bồi thường, bồi thường bổ sung 35,5m² đất cùng tài sản trên đất và hỗ trợ tái định cư cho ông N, bà M theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/10/2022, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 11876/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Nguyễn Văn N - Phạm Thị M do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường T (nối dài) theo Bản án hành chính số 64/2022/HC-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (viết tắt là Quyết định số 11876/QĐ-UBND). Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ (bổ sung): 2.867.509.000 đồng. Bồi thường bổ sung đất ở (đã bồi thường đất nông nghiệp) 178m² và bồi thường bổ sung đất ở đã thu hồi diện tích 23m²: 2.758.372.000 đồng. Các khoản bồi thường khác: 6.300.000 đồng. Hỗ trợ 100% giá nhà trên phần diện tích đất bồi thường bổ sung 23m²: 87.837.000 đồng. Các khoản hỗ trợ khác: 15.000.000 đồng. Tái định cư: 01 lô đất tái định cư.
Ông N, bà M không đồng ý với Quyết định số 11876/QĐ-UBND do chỉ được giao 01 lô đất tái định cư, tiếp tục khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy phần tái định cư tại mục G phần 1 Điều 1 Quyết định số 11876/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 của UBND thành phố V.
- Buộc UBND thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ giao thêm cho ông N, bà M 01 lô đất tái định cư theo quy định của pháp luật.
Người khởi kiện bà Phạm Thị M trình bày:
Ông N, bà M bị thu hồi 213,5m² đất để thực hiện dự án đường T (nối dài), thành phố V. Diện tích đất được bồi thường theo Quyết định số 11876/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 là 201m² đất ở (diện tích giảm 12,5m² so với bản án đã tuyên nhưng ông N, bà M không khiếu nại). Tại mục G phần 1 Điều 1 Quyết định số 11876/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 của UBND thành phố V, ông N và bà M được giao 01 lô đất tái định cư. Ông N, bà M đã nhận 01 lô đất tái định cư tại cư T, phường N, thành phố V với diện tích 84,4m² theo Quyết định số 13905/QĐ-UBND ngày 19/12/2022 của UBND thành phố V. Ông N, bà M bị thu hồi toàn bộ đất ở, không còn nhà ở, đất ở nào khác trên địa bàn thành phố V nhưng chỉ được giao 01 lô đất tái định cư với diện tích 84,4m² chưa bằng 1/2 diện tích đất thu hồi là không đúng với quy định của pháp luật tại Điều 79 Luật Đất đai năm 2013, khoản 1 Điều 6 của Nghị định 47/2014/NĐ-CP; khoản 1, 2, 3 Điều 5 của Quyết định 52/2014/QD-UBND ngày 31/10/2014 của UBND tỉnh B và Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban. Ngày 22/8/2023, ông N và bà M làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu hủy phần tái định cư tại Quyết định số 11876/QĐ-UBND, buộc UBND thành phố V giao thêm cho ông N, bà M 01 lô đất tái định cư. Ngày 25/8/2023, ông N qua đời. Hàng thừa kế thứ nhất của ông N gồm vợ là bà Phạm Thị M và các con Nguyễn Minh C, Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Bích H1, Nguyễn Thị Minh H2. Bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
Người bị kiện UBND thành phố V trình bày:
Thực hiện dự án đường T (nối dài), UBND thành phố V đã thu hồi của ông N, bà M 213,5m² đất. Trên đất thu hồi có nhà (chia làm 02 căn) và vật kiến trúc được xây dựng vào năm 1998, 2000, 2004, 2006, 2012 và 2014 (ghi nhận thời điểm theo phiếu tự kê khai của ông N). Ông N không cung cấp sổ hộ khẩu được Công an thành phố V cấp tại địa chỉ thường trú 9 P, Phường B, thành phố V và ông N không sinh sống tại địa chỉ thu hồi đất (cho cháu ở nhờ). Ông N, bà M đã nhận đủ tiền bồi thường theo Quyết định số 13233/QĐ-UBND ngày 19/11/2021, Quyết định số 11876/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 của UBND thành phố V và có đơn đề nghị được sớm giao đất tái định cư. Xét thấy, gia đình ông N và bà M chấp hành tốt chủ trương, chính sách thu hồi đất của Nhà nước và sớm nhận tiền, bàn giao mặt bằng cho Chủ đầu tư thi công công trình; nơi giải tỏa có vị trí thuận lợi trên địa bàn trung tâm thành phố V và mong muốn nhận đất sớm để xây dựng nhà ở, ổn định cuộc sống. Gia đình ông N thuộc diện chính sách (Ông N sinh năm 1935 là thương binh, bà M sinh năm 1940 là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân chương Kháng chiến hạng nhì). Căn cứ khoản 2 Điều 86 của Luật Đất đai 2013: “... Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng...”. Ngày 25/11/2022, UBND thành phố V có Văn bản số 10734/UBND- PTQĐ chấp thuận giao đất tái định cư cho ông (bà) Nguyễn Văn N – Phạm Thị M tại Lô đất số B khu tái định cư T, phường N, thành phố V. Hiện ông N, bà M đã nhận đất tái định cư theo Quyết định số 13905/QĐ-UBND ngày 19/12/2022.
UBND thành phố V đã căn cứ Điều 83 Luật Đất đai năm 2013, quy định của UBND tỉnh B về việc giao đất tái định cư, nội dung tuyên xử của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để giao 01 lô đất ở. Yêu cầu khởi kiện của ông N, bà M là không có cơ sở giải quyết, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông N, bà M.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2024/HC-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định:
- Căn cứ khoản 1 Điều 79, khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013;
- Căn cứ khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
- Căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 21 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh B;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M về việc:
- Hủy mục G phần 1 Điều 1 Quyết định số 11876/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Nguyễn Văn N - Phạm Thị M do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường T (nối dài).
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ giao thêm cho bà Phạm Thị M 01 lô đất tái định cư theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 17/4/2024, người khởi kiện bà Phạm Thị M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Phạm Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị M làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung:
Thực hiện dự án đường T (nối dài), UBND thành phố V đã ban hành Quyết định số 13212/QĐ-UBND ngày 19/11/2021 về việc thu hồi 213,5m² đất tại Phường C, thành phố V của ông Nguyễn Văn N, bà Phạm Thị M. Theo biên bản kiểm kê, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất ngày 18/6/2020 và Biên bản phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày 23/10/2020 của U thì trên đất thu hồi của ông N, bà M có nhà (chia làm 02 căn) và vật kiến trúc được xây dựng vào năm 1998, 2000, 2004, 2006, 2012 và 2014, thuộc trường hợp giải tỏa trắng. Ông N không sinh sông tại địa chỉ thu hồi đất mà cho cháu ở nhờ.
Ngày 19/11/2021, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 13233/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông (bà) Nguyễn Văn N - Phạm Thị M do Nhà nước thu hồi thực hiện dự án đường T (nối dài); tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ: 1.884.682.870 đồng; không bố trí tái định cư.
Ngày 05/10/2022, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 11876/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Nguyễn Văn N - Phạm Thị M do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường T (nối dài), thực hiện theo Bản án hành chính số 64/2022/HC-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ (bổ sung): 2.867.509.000 đồng. Đồng thời, giao 01 lô đất tái định cư. Ông N, bà M đã nhận đủ tiền bồi thường theo Quyết định số 13233/QĐ-UBND ngày 19/11/2021, Quyết định số 11876/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 của UBND thành phố V và có đơn đề nghị được sớm giao đất tái định cư. Ngày 25/11/2022, UBND thành phố V có Văn bản số 10734/UBND-PTQĐ chấp thuận đề nghị sớm giao đất tái định cư của ông N, bà M. Ngày 19/12/2022, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 13905/QĐ-UBND về việc giao cho ông N, bà M 01 lô đất tái định cư tại lô số B15 diện tích 84,4m² Khu tái định cư T, phường N, thành phố V.
Xét thấy, ông N, bà M bị thu hồi 213,5m² đất, đủ điều kiện bồi thường về đất ở 201m², thuộc trường hợp giải tỏa trắng và không đứng tên sở hữu, sử dụng nhà, đất trên địa bàn thành phố V. Tại thời điểm thu hồi đất, ông N, bà M không sinh sống trên đất mà cho cháu ở nhờ. Khi thu hồi đất ở của ông N và bà M, UBND thành phố V thực hiện bồi thường bằng tiền và hỗ trợ cho ông N, bà M 01 lô đất tái định cư là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 79, khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 5, khoản 2 Điều 21 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh B. Nay bà M khởi kiện yêu cầu giao thêm 01 lô đất tái định cư là không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của bà Phạm Thị M không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Phạm Thị M phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, bà M là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị M.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2024/HC-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Áp dụng khoản 1 Điều 79, khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013; khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 5, khoản 2 Điều 21 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh B; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M về việc:
- - Hủy mục G phần 1 Điều 1 Quyết định số 11876/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Nguyễn Văn N - Phạm Thị M do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường T (nối dài).
- - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ giao thêm cho bà Phạm Thị M 01 lô đất tái định cư theo quy định pháp luật.
- Án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm: Bà Phạm Thị M được miễn.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |
Bản án số 1088/2024/HC-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Số bản án: 1088/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị M yêu cầu: - Hủy mục G phần 1 Điều 1 Quyết định số 11876/QĐ-UBND ngày 05/10/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung cho ông (bà) Nguyễn Văn N - Phạm Thị M do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đường T (nối dài). - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ giao thêm cho bà Phạm Thị M 01 lô đất tái định cư theo quy định pháp luật.
