TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1087/2024/HC-PT Ngày: 25 - 9 - 2024 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán: Ông Phan Tô Ngọc
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 549/2024/TLPT-HC ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 2611/2023/HC-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1073/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc D (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ngọc D: ông Võ Thành L. (có mặt)
- Ông Võ Thành L (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: đường L, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H, chức vụ: Chủ tịch. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Bà Nguyễn Thị Linh P, chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C. (có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Võ Thành L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, người khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Võ Thành L trình bày:
Vào năm 2001 mô hình nuôi tôm sú đang phát triển mạnh ở địa bàn xã A nói riêng và huyện C nói chung đạt hiệu quả cao cho nhiều người dân nuôi tôm, được nhà nước khuyến khích cho nhân dân cải tạo đất làm ao... để chuyển đổi cây trồng vật nuôi. Lúc đó gia đình ông L có khu đất nuôi tôm tại khu vực M (ấp A, xã A) nằm liền kề với khu vực đất hoang không ai sử dụng nên ông L đã khai hoang mở rộng thêm phần diện tích để đào ao nuôi tôm phục vụ cuộc sống gia đình.
Được sự đồng ý của cấp chính quyền nên ông L đã vay tiền ngân hàng tiến hành thuê người cải tạo, bồi thổ, đắp bờ ao xung quanh làm ao nuôi tôm được thể hiện trên tờ bản đồ số 61, một phần thửa 100, có diện tích thời điểm đó khoảng gần 3.170m².
Sau đó ông L có mua thêm diện tích đất 775m² của ông Trần Văn N hiện ngụ tại: ấp A, xã A cập giáp ranh với miếng đất mà gia đình ông L đã khai hoang canh tác để thành một ao nuôi tôm.
Từ khi bảo quản xây dựng thành ao nuôi tôm, gia đình ông L và bà D đã nuôi nhiều vụ, kể cả thay đổi nuôi nhiều loại thủy sản khác nhau nhưng đều bị thua lỗ. Hiện tại ông L và bà D vẫn nuôi tôm tại miếng đất ao nói trên. Nay ông L và bà D có nguyện vọng xin các cơ quan chức năng xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích thực tế chỉ còn lại 1.658m² (có bản vẽ hiện trạng vị trí).
Năm 2008, ông L có làm đơn cứu xét hợp thức hóa ao nuôi tôm và xin hỗ trợ chi phí khai hoang, bồi đắp đất cho công trình xây dựng ban nhân dân ấp A, xã A. Cũng trong thời điểm đó, ông có đến Ủy ban nhân dân xã A để xin hợp thức hóa miếng đất ao do ông bồi thổ như trên nhưng được trả lời là phải chờ xin ý kiến cấp trên vì có giáp ranh cột mốc của rừng.
Năm 2008, Ủy ban nhân dân xã A tổ chức xây dựng trụ sở ban nhân dân ấp An Đông trên phần đất ông L và bà D đang canh tác nuôi tôm nhưng không có quyết định thu hồi đất và cũng không được hỗ trợ chi phí gì làm thu hẹp diện tích ao nuôi tôm của gia đình ông.
Năm 2009, Ủy ban nhân dân huyện C tiếp tục thu hồi một phần đất ao để nâng cấp mở rộng đường A, ấp A, xã A.
Năm 2016, Ủy ban nhân dân huyện C tiếp tục thu hồi một phần diện tích đất gò nhà và ao tôm của gia đình ông L và bà D đang canh tác nuôi tôm để mở rộng Trường THCS A (cũng không có chính sách hỗ trợ gì).
Chấp hành theo lệnh của nhà nước, gia đình ông L và bà D đã hiến các phần đất trên để nhà nước thực hiện chủ trương chung là xây dựng các công trình phúc lợi. Phần diện tích ao chỉ còn lại là 1.658m² (so với trước đây là gần 3.170m²), ông L và bà D tiếp tục nuôi trồng thủy sản ổn định và liên tục cho đến nay mà không tranh chấp với ai.
Nhưng hiện nay phần đất ao tôm nêu trên đã bị Ủy ban nhân dân xã A, huyện C đưa vào quản lý theo diện đất công, như vậy là rất thiệt thòi cho ông L và bà D vì đã bỏ rất nhiều công sức, tiền bạc để đầu tư sản xuất trên mảnh đất này ổn định liên tục từ năm 2001 cho đến nay là 21 năm. (Công văn trả lời của Ủy ban nhân dân xã A số 40/UBND ngày 10/01/2020). Nay ông L và bà D mong muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và canh tác tại phần đất còn lại (hiện nay là đất ao nuôi tôm hoàn chỉnh, hiện hữu, xung quanh bờ đất giáp ranh các vị trí sau; phía sau nhà văn hóa ấp A, cặp bên hông trường THCS A và nhà ông Trần Văn N chứ không còn phải là đất rạch nữa) để ông bà được an tâm tiếp tục đầu tư sản xuất ổn định cuộc sống gia đình. Hiện tại, ông L và bà D cũng đang sử dụng phần đất 775m² do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 22/09/2004 số 6795/QSDĐ/SX giáp ranh với miếng đất trên.
Gia đình ông L và bà D có làm đơn xin Ủy ban nhân dân huyện C xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khu đất trên. Nhưng Ủy ban nhân dân huyện trả lời bằng Công văn số 3420/UBND ngày 14/07/2020 là không đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất với diện tích còn lại là 1.658m² (theo bản vẽ hiện trạng vị trí).
Không đồng ý với nội dung trả lời trên, ông L và bà D tiếp tục làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C xem xét lại. Ủy ban nhân dân huyện trả lời bằng Công văn số 936/UBND ngày 05/03/2021 với nội dung cũng giống như Công văn số 3420/UBND nêu trên là không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà.
Ngày 14/06/2021, ông L và bà D gửi đơn đến Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, ngày 01/07/2021 Sở T có Phiếu chuyển số 1051/PC-TT chuyển đơn trở lại Ủy ban nhân dân huyện C để xem xét, giải quyết theo quy định.
Đến ngày 13/07/2021, Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản số 3571/UBND giao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C phối hợp Ủy ban nhân dân xã A kiểm tra, rà soát theo nội dung đơn của ông L, bà D... Nhưng đến nay vẫn chưa nhận được văn bản nào khác của Ủy ban nhân dân huyện C, hay của cơ quan nào khác xuất phát từ những nội dung đơn khởi kiện trên.
Nay ông L, bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
- - Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện C không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông L, bà D với phần diện tích 1.658m² theo Công văn 936/UBND ngày 05/03/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời đơn là trái pháp luật.
- - Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1.658m², thuộc thửa 100, tờ bản đồ số 61 ở xã A cho hộ gia đình ông L, bà D.
Người bị kiện UBND huyện C trình bày:
- - Về việc tuyên hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện C không thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Võ Thành L và bà Nguyễn Thị Ngọc D đối với phần diện tích 1.658m², nhằm một phần thửa 100, tờ bản đồ số 61, xã A, huyện C theo Văn bản số 936/UBND ngày 05/3/2021 của UBND huyện C là trái quy định pháp luật:
Khu đất ông Võ Thành L đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối chiếu theo tài liệu bản đồ số năm 2005, nhằm một phần thửa 100, tờ bản đồ số 61, xã A. Theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB ngày 18 tháng 01 năm 1992 của Ủy ban nhân dân thành phố thể hiện đất Rạch.
Năm 2009, Ủy ban nhân dân huyện G cho Ủy ban nhân dân xã A quản lý theo Quyết định số 817/QĐ-UBND ngày 17 tháng 8 năm 2009 của Ủy ban nhân dân huyện về phê duyệt số liệu diện tích đất do Nhà nước trực tiếp quản lý trong đó có phần đất hiện ông L xin cấp giấy chứng nhận.
Căn cứ khoản 2 Điều 141 Luật Đất đai năm 2013, quy định: “Đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc địa phận xã, phường, thị trấn nào thì do Ủy ban nhân dân cấp xã đó quản lý. Đất bãi bồi ven sông, ven biển thường xuyên được bồi tụ hoặc thường bị sạt lở do Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý và bảo vệ”.
Căn cứ khoản 2 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật đất đai: “Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn”.
Theo quy định nêu trên đối với trường hợp ông Võ Thành L đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, ngày 05 tháng 03 năm 2021, Ủy ban nhân dân huyện B văn bản số 936/UBND về trả lời đơn ông Võ Thành L.
- - Về việc buộc Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1,658m², nhằm một phần thửa 100, tờ bản đồ số 61, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cho hộ gia đình ông Võ Thành L và bà Nguyễn Thị Ngọc D:
Khu đất bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Võ Thành L đang khởi kiện thuộc đất do Nhà nước trực tiếp quản lý theo Quyết định số 817/QĐ-UBND ngày 17 tháng 8 năm 2009 của Ủy ban nhân dân huyện. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện căn cứ khoản 2 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật đất đai: “Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn” và căn cứ khoản 2 Điều 141 Luật Đất đai năm 2013, quy định: “Đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc địa phận xã, phường, thị trấn nào thì do Ủy ban nhân dân cấp xã đó quản lý. Đất bãi bồi ven sông, ven biển thường xuyên được bồi tụ hoặc thường bị sạt lở do Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý và bảo vệ” không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Võ Thành L.
Ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện C: Từ những cơ sở trên, Ủy ban nhân dân huyện C đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Võ Thành L đối với các nội dung trên.
Ngày 24/11/2023, Ủy ban nhân dân huyện C có Văn bản số 8620/UBND trình bày ý kiến bổ sung như sau: “Sau khi đối chiếu hồ sơ lưu trữ thì phần đất theo đơn khởi kiện của ông Võ Thành L và bà Nguyễn Thị Ngọc D tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thuộc danh sách liệt kê các thửa đất do Nhà nước trực tiếp quản lý trên địa bàn xã A theo Quyết định số 1730/QĐ-UBND ngày 05/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện C. Về thông tin dữ liệu đất đai được lưu trữ tại huyện C qua các thời kỳ: qua rà soát tài liệu Chỉ thị số 02/CT-UB ngày 18/01/1992 của Ủy ban nhân dân Thành phố, phần diện tích đất 1.658m² trên thuộc đất rạch, tờ bản đồ số 15. Theo tài liệu năm 2005, phần diện tích đất 1.658m² trên thuộc thửa đất 100-2, tờ bản đồ số 61 do Ủy ban nhân dân huyện giao Ủy ban nhân dân xã A quản lý theo Quyết định số 1730/QĐ-UBND ngày 05/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện về phê duyệt số liệu diện tích đất do nhà nước trực tiếp quản lý”.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 2611/2023/HC-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Võ Thành L, gồm:
- - Yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện C không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông L1, bà D với phần diện tích 1.658m² theo Công văn số 936/UBND ngày 05/03/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời đơn là trái pháp luật.
- - Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1.658m², thuộc thửa 100, tờ bản đồ số 61 ở xã A cho hộ gia đình ông L, bà D.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 02/01/2024, người khởi kiện ông Võ Thành L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Võ Thành L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thành L.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Võ Thành L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
- - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Võ Thành L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Võ Thành L làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Thửa đất ông Võ Thành L đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 1.658m², đối chiếu theo Tài liệu bản đồ số năm 2005, nhằm một phần thửa 100, tờ bản đồ số 61, xã A; theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB ngày 18/01/1992 của Ủy ban nhân dân thành phố H thể hiện đất rạch.
Năm 2001, ông L sử dụng thửa đất trên để nuôi trồng thủy sản nhưng không đăng ký kê khai việc sử dụng đất với Ủy ban nhân dân xã và ông L cũng không có các giấy tờ theo quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013, không có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã về đất không có tranh chấp theo quy định tại khoản 5 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Năm 2019, Ủy ban nhân dân huyện C giao cho Ủy ban nhân dân xã A quản lý theo Quyết định số 1730/QĐ-UBND ngày 05/11/2019 về phê duyệt số liệu diện tích đất do Nhà nước trực tiếp quản lý thuộc xã A, huyện C, trong đó có phần đất ông L, bà D xin cấp giấy chứng nhận.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật đất đai quy định về các trường hợp không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất trong đó có: “Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn”.
Đối chiếu với quy định trên thì thửa đất ông L, bà D yêu cầu cấp giấy chứng nhận là đất công do Nhà nước trực tiếp quản lý, không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Văn bản số 3420/UBND ngày 14/7/2020 và Văn bản số 936/UBND ngày 05/3/2021 trả lời đơn của ông Võ Thành L với nội dung từ chối cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên là có căn cứ.
Ông L, bà D khởi kiện yêu cầu tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện C không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái pháp luật, đồng thời yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân huyện C lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của ông Võ Thành L không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Võ Thành L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Thành L.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 2611/2023/HC-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Võ Thành L, gồm:
- - Yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện C không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông L1, bà D với phần diện tích 1.658m² theo Công văn số 936/UBND ngày 05/03/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời đơn là trái pháp luật.
- - Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1.658m², thuộc thửa 100, tờ bản đồ số 61 ở xã A cho hộ gia đình ông L, bà D.
- Án phí hành chính sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Võ Thành L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2021/0003505 ngày 18/11/2022 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Võ Thành L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0031734 ngày 23/01/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |
Bản án số 1087/2024/HC-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
- Số bản án: 1087/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Võ Thành L khởi kiện yêu cầu: - Yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện C không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông L1, bà D với phần diện tích 1.658m2 theo Công văn số 936/UBND ngày 05/03/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C trả lời đơn là trái pháp luật. - Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 1.658m2, thuộc thửa 100, tờ bản đồ số 61 ở xã A cho hộ gia đình ông L, bà D.
