TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1085/2024/HS-PT Ngày 25 tháng 11 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Tửu.
Ông Mai Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 898/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo Lê Tấn L, Nguyễn Nhật H, Nguyễn Trung T phạm tội “Giết người”.
Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhật H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 406/2024/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1084/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2024.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Nhật H, sinh ngày 05/12/2002, tại tỉnh Sóc Trăng.
Hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã H, huyện M, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: Tổ H, Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; cha: Trần Văn H1, sinh năm 1970; mẹ: Nguyễn Thị Hồng K, sinh năm 1980; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn, em sinh năm 2018; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 23/11/2023 đến nay, tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Thị Huy C, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Bị cáo không có kháng cáo:
- Lê Tấn L, sinh ngày 18/11/2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hộ khẩu thường trú: Số E đường C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số E B, Khu phố B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Làm công; cha: Trần Tấn Đ, sinh năm 1980; mẹ: Lê Thị Ngọc T1, sinh năm 1982; gia đình có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2006, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 06/5/2022; bị tạm giữ và tạm giam kể từ ngày 06/5/2022 đến nay, tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H.
- Nguyễn Trung T, sinh ngày 08/10/2006, tại tỉnh Hậu Giang.
Hộ khẩu thường trú: Ấp B, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở: Tổ H, Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Công nhân; cha: Nguyễn Trung H2, sinh năm 1972; mẹ: Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1981; gia đình có 03 người con lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2014, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 23/11/2023 đến nay, tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H.
Trong vụ án, có bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 05/5/2022, Lê Tấn L đi đến nhà trọ của anh Đỗ Thành M tại ấp C, xã V, huyện B để ăn uống cùng anh M và anh Ngô Thành Q. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, chị Nguyễn Thị Huỳnh N đang ngồi ăn uống tại quán Ố tại địa chỉ nhà không số, Tổ E, Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh gọi điện rủ anh Q và L đi đến quán ăn uống chung nên Q và L đồng ý. Khi đi, L nhìn thấy trên tủ bán thức ăn của anh M có để 01 con dao Thái Lan có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 20 cm cán bằng nhựa màu vàng nên lấy bỏ vào túi quần rồi cùng anh Q đi ra quán, khi đến nơi nhìn thấy chị N đang ngồi cùng với Nguyễn Nhật H và Nguyễn Trung T nên anh Q và L đi vào ngồi ăn uống chung.
Lúc này, trong quán Ốc T2 còn có anh Phan Quốc C1, anh Võ Văn T3 và anh Lê Phước S cũng đang ngồi ăn uống ở bàn bên cạnh. Trong lúc ăn uống, do nói chuyện lớn tiếng nên giữa Lê Tấn L, Nguyễn Trung T, Nguyễn Nhật H và anh Phan Quốc C1 xảy ra cự cãi, dẫn đến đánh nhau. Trong lúc đánh nhau, T cầm ly bia bằng nhựa đánh 02 cái trúng vào đầu anh C1, H cầm ghế bằng nhựa đánh 01 cái trúng vào đầu anh C1 làm gãy chân ghế, còn L lấy con dao từ trong túi quần ra đâm 01 nhát trúng vào ngực của anh C1. Sau khi bị đâm anh C1 bỏ chạy ra phía ngoài đường thì L, H và T tiếp tục đuổi theo anh C1, khi đuổi được khoảng 10 mét thì cả 03 dừng lại. Lúc này, T chỉ tay về phía anh C1 và nói “Mày quay lại tao đập chết mẹ mày”, còn H chỉ tay nói “Mày không kiếm tao tao cũng kiếm mày”, anh C1 tiếp tục bỏ chạy sang bên đường đến chỗ trụ điện cách nơi xảy ra
đánh nhau được khoảng 30 mét thì gục ngã xuống đường. Thấy vậy, L cùng H và T quay về quán tính tiền rồi cùng anh Q và chị N đi đến quán ăn tại địa chỉ Ấp F, xã V, huyện B để tiếp tục ăn uống, sau đó cả nhóm đi về. Trên đường đi, L để con dao lên baga xe gắn máy biển số 94E1- 303.21 do anh Q điều khiển thì bị rơi mất nên không thu hồi được. Riêng anh C1 được gia đình đến đưa đi Bệnh viện cấp cứu nhưng đã tử vong. Ngày 06/5/2022, Lê Tấn L đến Công an xã V, huyện B đầu thú.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 2698-22/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng K1 C kết luận: Phan Quốc C1 chết do sốc mất máu không hồi phục do vết thương đâm thủng tim.
Tại bản Kết luận giám định pháp y bổ sung số 211-23/KLGĐ-PY ngày 26/12/2022 của Phòng K1 C kết luận: Căn cứ vào cơ chế hình thành dấu vết thương tích trên người nạn nhân thì con dao Thái lan dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 8cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng bạc dài khoảng 12cm, bản rộng 1,5cm, mũi dao nhọn có thể gây ra được vết thương thủng da ngực phải và tất cả vết đứt xước da của nạn nhân.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Lê Tấn L, Nguyễn Nhật H và Nguyễn Trung T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 406/2024/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Tấn L, Nguyễn Nhật H, Nguyễn Trung T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn L tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/5/2022.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2023.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 91, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 27/8/2024, bị cáo Nguyễn Nhật H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nhật H giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Tuy nhiên, hình phạt 12 năm tù là quá nghiêm khắc nên bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm hình phạt, với lý do như sau: Gia đình có công với cách mạng, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo hợp lệ, đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Nhật H phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp với các chứng cứ của vụ án. Bị cáo Nguyễn Nhật H kháng cáo xin giảm hình phạt với lý do gia đình có công với cách mạng và đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của bị hại và trật tự an toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo 12 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhật H, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và chỉ xin giảm hình phạt.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bản án sơ thẩm xác định bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm. Ngoài ra, nguyên nhân trực tiếp gây cái chết của bị hại là do bị cáo L dùng dao đâm không phải do hành vi của bị cáo H. Trong trường hợp này, hành vi của bị cáo H là hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc về hình phạt.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tích cực vận động cha mẹ để bồi thường cho gia đình bị hại 50 triệu đồng. Điều này thể hiện thái độ ăn năn hối cải của bị cáo. Vào ngày 17/9/2024, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Phan Văn H3 đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo có công với cách mạng (có ông cố và chú là liệt sĩ). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Nhật H đồng ý nội dung bào chữa của Luật sư và trình bày đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị cáo kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Nhật H xác định đã thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu. Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định:
Do có mâu thuẫn trong lúc ăn uống nên vào khoảng 22 giờ ngày 05/5/2022, tại quán Ố, địa chỉ nhà không số, Tổ E, Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các bị cáo Lê Tấn L, Nguyễn Trung T, Nguyễn Nhật H và anh Phan Quốc C1 xảy ra cự cãi dẫn đến đánh nhau. Trong lúc đánh nhau, bị cáo T cầm ly bia bằng nhựa đánh 02 cái vào đầu anh C1, bị cáo H cầm ghế bằng nhựa đánh 01 cái vào đầu anh C1 làm gãy chân ghế, còn bị cáo L lấy con dao từ trong túi quần ra đâm 01 nhát vào ngực anh C1. Sau khi bị đâm, anh C1 bỏ chạy ra phía ngoài đường thì L, H và T tiếp tục đuổi theo anh C1, khi đuổi được khoảng 10 mét thì cả 03 dừng lại. Lúc này, T chỉ tay về phía anh C1 và nói “Mày quay lại tao đập chết mẹ mày”, còn H chỉ tay nói “Mày không kiếm tao tao cũng kiếm mày”, anh C1 tiếp tục bỏ chạy khoảng 30m thì gục ngã, được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong.
[4] Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác và trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Tấn L, Nguyễn Nhật H, Nguyễn Trung T phạm tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhật H, thấy rằng: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo H 12 (mười hai) năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật.
Giai đoạn phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo có nộp tài liệu thể hiện bị cáo có ông cố ngoại, ông chú là Liệt sỹ và đơn xin giảm trách nhiệm hình sự của ông Phan Văn Hay L2 cha ruột của bị hại, thể hiện gia đình bị hại đã nhận 50.000.000 đồng của gia đình bị cáo. Xét thấy: Tình tiết gia đình có công với
cách mạng đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Số tiền gia đình bị cáo khắc phục 50.000.000 đồng cho gia đình bị hại sau khi xét xử sơ thẩm là tình tiết mới nhưng là không đáng kể so với nghĩa vụ của bị cáo phải bồi thường là 406.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Nhật H cũng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ khác. Vì vậy, hình phạt 12 năm tù của bản án sơ thẩm nêu trên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[6] Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhật H; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Nhật H phải chịu án phí phúc thẩm.
[7] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhật H.
- Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 406/2024/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tuyên bố các bị cáo Lê Tấn L, Nguyễn Nhật H, Nguyễn Trung T phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Nhật H 12 (mười hai) năm tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Nhật H để bảo đảm thi hành án.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Nhật H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
Bản án số 1085/2024/HS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giết người)
- Số bản án: 1085/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
