Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1083/2025/DS-ST

Ngày: 26/6/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thế Hùng.
  2. Bà Nguyễn Thị Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị T – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 tháng 6 năm 2025 và ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 855/2021/DSST ngày 31 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4261/2025/QĐXX-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 5142/2025/QĐH-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Mai Văn V, sinh năm 1970
  2. Địa chỉ: 4 đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  3. Bị đơn:
    1. Bà Chu Minh N, sinh năm 1971
    2. Địa chỉ: 3 Đường A, Tổ F, Khu phố D (cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Văn T1, sinh năm 1977.

      Địa chỉ: 6 Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

      (Theo giấy ủy quyền ngày 16/6/2025)

    3. Bà Chu Minh N1, sinh năm 1982.
    4. Địa chỉ: 6 Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

      (Là hàng thừa kế thứ nhất của: Ông Chu Đình T2, sinh năm 1942 (đã chết năm 2021)

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Minh H, sinh năm 1946 (đã chết năm 2023)
    2. Địa chỉ thường trú trước khi chết: F X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:

      • Bà Chu Minh N, sinh năm 1971
      • Địa chỉ: 3 Đường A, Tổ F, Khu phố D (cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

        Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Tô Văn T1, sinh năm 1977 (có mặt).

        Địa chỉ: 6 Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

      • Bà Chu Minh N1, sinh năm 1982.
      • Địa chỉ: 6 Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

    3. Bà Chu Minh N, sinh năm 1971 (vắng mặt)
    4. Địa chỉ: 3 Đường A, Tổ F, Khu phố D (cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

      Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Tô Văn T1, sinh năm 1977 (có mặt).

      Địa chỉ: 6 Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    5. Chu Minh Nhật N2, sinh năm 1999.
    6. Địa chỉ: 3 Đường A, Tổ F, Khu phố D (cũ), phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

      Người đại diện theo ủy quyền của bà N2: Ông Tô Văn T1, sinh năm 1977 (có mặt).

      Địa chỉ: 6 Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

      (Theo giấy ủy quyền ngày 16/6/2025)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/12/2021 và lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng:

    Quyền sử dụng đất có diện tích 1464 m² thuộc thửa 69 tờ bản đồ số 2 bộ địa chính xã L, quận T (theo tài liệu 02/CT-UB) tại địa chỉ phường L, quận T thuộc nay là một phần thửa 135, 154, 168, 1203, 1204 và một phần tại tờ bản đồ số 36 Bộ địa chính phường L, quận T (theo tài liệu năm 2004), được Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C037155, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00036/QSDĐ/1998 cho bà Nguyễn Thị L. Năm 2020, ông nhận chuyển toàn bộ lô đất nêu trên từ bà Nguyễn Thị L và được cập nhập biến động về chủ sử dụng ngày 11/12/2020. Tháng 02/2021, khi tiến hành đo vẽ cắm móc để xây dựng hàng rào bao quanh khu đất (Bản đồ hiện trạng vị trí) thì ông phát hiện ông Chu Đình T2 - là hộ dân ở gần phần đất của ông đã tự ý lấn chiếm khoảng 23.7m² và xây dựng các công trên đó. Khi phát hiện sự việc, ông đã nhiều lần gặp mặt, trao đổi và yêu cầu ông Chu Đình T2 tháo dỡ công trình, trả lại phần đất đã lấn chiếm trái pháp luật cho ông nhưng ông Chu Đình T2 vẫn không hợp tác.

    Tháng 02/2021, ông gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T hòa giải tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, các bên đã không thống nhất được với nhau, ông Chu Đình T2 không trả lại phần đất đã lấn chiếm và tháo dỡ công trình đã xây dựng trên đất. Do đó, Ủy ban nhân dân phường L đã lập biên bản hòa giải không thành và ra thông báo để các bên liên quan khởi kiện vụ án đề Toà án xem xét giải quyết.

    Ngày 07/12/2021, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Chu Đình T2 phải tháo dỡ công trình để trả lại cho ông phần đất lấn chiếm có diện tích khoảng 23.7m².

    Tuy nhiên, theo kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án thì ông Chu Đình T2 đã chết vào ngày 17/11/2021 do đó ông xác định lại nội dung khởi kiện như sau:

    Yêu tòa án tòa án buộc:

    Hàng thừa kế thứ nhất của ông Chu Đình T2 (đã chết) gồm:

    1. Bà Chu Minh N, sinh năm 1971
    2. Địa chỉ: 3 Đường A, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Bà Chu Minh N1, sinh năm 1982.
    4. Địa chỉ: 6 Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng là 23.7m² tại vị trí được ký hiệu (4) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 02/6/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H để trả lại cho ông 23.7m² đất.

  2. Tại phiên tòa:
    1. Ông Mai Văn V là nguyên đơn trình bày:

      Ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bà Chu Minh N và bà Chu Minh N1 (là hàng thừa kế thứ nhất của ông Chu Đình T2) phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng là 23.7m² để trả lại cho ông 23.7m² đất tại vị trí được ký hiệu (4) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 02/6/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    2. Ông Tô Văn T1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Chu Minh N trình bày:

      Cha bà N là ông Chu Đình T2 (đã chết năm 2021) và mẹ là bà Nguyễn Minh H (đã chết năm 2023). Cha mẹ bà N có hai người con là bà Chu Minh N và bà Chu Minh N1. Năm 2017, ông Chu Đình T2 và bà Nguyễn Minh H có nhận chuyển nhượng phần đất thổ cư có diện tích 101.9m² tại thửa số 880, tờ bản đồ số 36 (tài liệu 2004), phường L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BD 054580 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 05/10/2010 cho bà Nguyễn Thị Thu T3. Khi về sinh sống tại thửa đất trên ông T2 có sử dụng một phần đất thuộc hành lang bảo vệ đường sắt để trồng rau. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh phần đất trước đây ông T2 rào lại để trồng rau là của ông, nếu nguyên đơn có đầy đủ giấy tờ thể hiện việc ký giáp ranh đất với các hộ dân ở đó thì bà N sẽ xem xét trả lại cho ông. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà N không đồng ý trả ngay đất phần nêu trên cho nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    3. Bà Chu Minh N1 trình bày:

      Bà thống nhất với lời trình bày của ông Tô Văn T1. Đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    4. Ông Tô Văn T1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Chu Minh Nhật N2 trình bày:

      Bà N2 thống nhất với lời trình bày của bà Chu Minh N. Đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    5. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

      Về tố tụng:

      việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.

      Về nội dung:

      Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng:

    Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại Khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

    Do đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ông Chu Đình T2 là bị đơn, chết ngày 11/7/2021 theo trích lục khai tử số 1030/TLKT-BS ngày 01/12/2023 do Ủy ban nhân dân quận B cấp. Như vậy, ông T2 chết trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án. Ngày 01/4/2024, nguyên đơn có đơn thay đổi yêu đơn khởi kiện xác định bị đơn trong vụ án là hàng thừa kế thứ nhất của ông chu Đình T2 gồm bà Chu Minh N và Chu Minh N1. Do đó, bà Chu Minh N và bà Chu Minh N1 được xác định là bị đơn trong vụ án.

    Bà Nguyễn Minh H là người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, chết ngày 03/06/2023 theo trích lục khai tử số 486/TLKT-BS ngày 08/6/2023 do Ủy ban nhân dân quận B cấp. Bà Chu Minh N và bà Chu Minh N1 là hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Minh H. Do đó, bà Chu Minh N và bà Chu Minh N1 được xác định là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Minh H

  2. [2] Về nội dung:

    Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C037155, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00036/QSDĐ/1998 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 07/9/1998 cho bà Nguyễn Thị L, cập nhật biến động chủ sử dụng cho ông Mai Văn V ngày 11/12/2020; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BD 054580 ngày 05/10/2010 cho bà Nguyễn Thị Thu T3, cập nhật biến động chủ sử dụng cho ông Chu Đình T2 và bà Nguyễn Minh H ngày 26/6/2017 và văn bản số 1248/UBND-TNMT ngày 07/02/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố T thể hiện: “Phía Đông Nam thửa đất số 880 tiếp giáp đường trải đá và không tiếp giáp với thửa đất số 69 tờ bản đồ số 2 (tài liệu 02/CT-UB) do ông Mai Văn V sử dụng. Ranh thửa đất số 880 tờ bản đồ số 36 (tài liệu 2004), phường L đã được xác định theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh số hợp đồng 24957/TTDĐBD-CNTĐ do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T lập ngày 21/06/2024 và không chồng lấn ranh với thửa đất số 69 tờ bản đồ số 2 (tài liệu 02/CT-UB) do ông Mai Văn V đang sử dụng”. Như vậy, quyền sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn là hai thửa đất riêng biệt, vị trí hai thửa đất không liền kề, có ranh giới rõ ràng.

  3. [3] Phần đất tranh chấp có diện tích 23.7m² tại vị trí được ký hiệu (4).

    Căn cứ bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T ngày 02/6/2024. Bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp thuộc hành lang bảo vệ đường sắt, không thừa nhận lấn chiếm đất của nguyên đơn nhưng qua đối chiếu hiện trạng thực tế nhà đất tại bản vẽ hiện trạng vị trí, xác định ranh ngày 02/6/2024 của Trung tâm đo đạc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thì phần đất nguyên đơn tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C037155, vào sổ cấp giấy chưng nhận số 00036/QSDĐ/1998 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 07/9/1998 cho bà Nguyễn Thị L, cập nhật biến động chủ sử dụng cho ông Mai Văn V ngày 11/12/2020.

    Theo văn bản số 1248/UBND-TNMT ngày 07/02/2025 của Ủy ban nhân dân T trả lời về việc xác định nguồn gốc phần đất có diện tích 23.7m² số ký hiệu (4) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 02/6/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H là đất do bà Nguyễn Thị L sử đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận số 00036/QSD Đ/1998 ngày 07/9/1998, cập nhập thay đổi chủ sử dụng cho ông Mai Văn V ngày 11/12/2020.

    Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có là có cơ sở chấp nhận, buộc bị đơn phải trả đất cho nguyên đơn.

  4. [4] Đối với công trình xây dựng trên đất:

    Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14 tháng 11 năm 2024 công trình bị đơn xây dựng trên phần đất phải giao trả cho nguyên đơn có diện tích 23.7m², là công trình tạm được xây tường bao bằng vách tôn, cọc sắt và một phần tường gạch, không được cấp phép. Xét, nguyên đơn không đồng ý để công trình của bị đơn đã xây dựng trên phần đất của nguyên đơn tồn tại nên cần buộc bị đơn di dời hoặc tháo dỡ công trình xây dựng trả lại đất cho nguyên đơn.

  5. [5] Theo Biên bản định giá tài sản ngày 21 tháng 01 năm 2025 đơn giá đất tranh chấp có giá 7.280.000 đồng/m². Do đó, phần đất tranh chấp có giá là: 7.280.000 đồng/m2 x 23.7m² = 172.536.000 đồng.

    Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp, đúng quy định.

  6. [5] Chi phí tố tụng:

    Do nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản nên bị đơn không phải hoàn trả chi phí tố tụng cho nguyên đơn.

  7. [6] Án phí dân sự sơ thẩm:

    Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1, Khoản 2 Điều 269; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 158; Điều 164; Điều 189 và Điều 190 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 5 Điều 166 và Khoản 1 Điều 170 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Luật phí và lệ phí;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Mai Văn V;

    Buộc bà Chu Minh N, bà Chu Minh N1 (là hàng thừa kế thứ nhất của ông Chu Đình T2) phải trả lại cho ông Mai Văn V phần quyền sử dụng đất có diện tích 23.7m² thuộc thửa đất số 69, tờ bản đồ số 2 (tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tại vị trí được ký hiệu (4) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 02/6/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Buộc bà Chu Minh N, bà Chu Minh N1 (là hàng thừa kế thứ nhất của ông Chu Đình T2) có trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng có diện tích 23.7m² trên quyền sử dụng đất phải giao trả (23.7m² ) tại vị trí được ký hiệu (4) theo bản đồ hiện trạng vị trí – xác định ranh ngày 02/6/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cho ông Mai Văn V.

  2. Chi phí tố tụng:

    Ông Mai Văn V tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Chu Minh N và bà Chu Minh N1 phải chịu 8.626.800 (tám triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ông Mai Văn V được nhận lại 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0025276 ngày 24/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Quyền và thời hạn kháng cáo:

    Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Thủ Đức
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1083/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 1083/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger