Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- - - *&*- - -

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

- - - **&** - - -

Bản án số: 1081/2024/HS-PT

Ngày: 04/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chử Phương Ngọc.

Thẩm phán: Bà Đặng Thị Thanh Huyền.

Bà Trần Thị Lê Na .

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Phương Minh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 04/12/2024, tại Phòng xử án Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1006/2024/TLPT-HS ngày 31.01.2024 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 188/2024/HSST ngày 24/9/2024 của TAND quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N - Sinh năm: 1977, tại Hà Nội.

ĐKHKTT: Phường B, quận H, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Lang thang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Phạm Thị B1; Có vợ là Vũ Lệ N1 (đã ly hôn); Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền sự: Bản án số 298/HSST ngày 19/5/2001, TAND TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (ra trại 31/8/2002). Bản án số 182/2008/HSPT ngày 16/10/2008, TAND TP Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (đặc xá ngày 30/8/2010); Tiền án: Bản án số 271/2016/HSST ngày 31/5/2016, TAND quận Hai Bà Trưng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 17/01/2018). Bản án số 292/2018/HSST n gày 14/11/2018, TAND quận Hoàng Mai xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 30/12/2019). Bản án số 344/2020/HSST ngày 17/11/2020, TAND quận Hoàng Mai xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 19/01/2023); Bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 22/02/2024; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 của Công an Thành phố H.

Có mặt.

- Ngoài ra, còn có bị cáo khác, bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 08/02/2024, Đào Văn K điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream mang BKS: 29E1 – 629.22 (BKS bị K dùng băng dính dán kín 04 số cuối) đến Trung tâm T2 (gọi là siêu thị L), địa chỉ số F đường L, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội. Khi K gửi xe máy trong bãi xe theo cửa bảo vệ trên đường L thì được cấp 01 vé từ gửi xe tại cây phát vé tự động, K thấy siêu thị không ghi vé gửi xe mà sử dụng thẻ từ để theo dõi xe ra vào. K điều khiển xe vào trong bãi và đi bộ qua chỗ để xe cột A2 thì nhìn thấy chiếc xe Honda SH Mode màu trắng, xe mang BKS: 29LS 342.26 của chị Nguyễn Thanh H để quên 01 chiếc chìa khóa xe máy điện tử ở trên yên xe và không thấy có chủ xe hay nhân viên bảo vệ trông giữ. Thấy vậy, K nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy này mang đi bán lấy tiền tiêu sài. K liền dùng điện thoại của mình số 0876.205.xxx gọi vào số điện thoại 0836.663.xxx của Nguyễn Văn N, K lưu số điện thoại của N trong danh bạ là “b Ngọc b Đang”, K rủ N đến siêu thị L để cùng nhau trộm cắp chiếc xe máy trên, N đồng ý. Sau đó, K đi bộ ra ngã tư đường L - Ngõ F L để chờ N đến. Khoảng 30 phút sau, N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, BKS: 29D2-727.09 đi đến gặp K. Tại dây, K bảo N mang xe máy vào bãi gửi để lấy thẻ từ, sau đó sẽ tráo đổi thẻ từ cho nhau để mang xe máy ra xem có mang được xe ra không nếu thuận lợi thì sẽ tiến hành trộm cắp chiếc xe máy Honda SH mode trên, được N đồng ý. N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ BKS: 29D2-727.09 của N chở K đi vào, K lấy thẻ từ gửi xe ở máy phát vé tự động. Sau khi vào bãi gửi xe, K đưa cho N thẻ từ gửi xe máy của K và cầm thẻ từ gửi xe máy của N và cả hai thuận lợi lấy xe máy ra khỏi bãi gửi xe mà không bị bảo vệ phát hiện. Sau đó, K bảo N đứng ở ngã tư đường L - Ngõ F L đợi K đi lấy chiếc xe máy Honda Dream đã cũ nát để mang đến gửi vào trong bãi rồi lấy thẻ gửi xe ra đưa cho N vào lấy trộm chiếc xe Honda SH trên, N đồng ý. K điều khiển máy nhãn hiệu Honda Dream mang BKS: 29E1 – 629.22 về ngã tư K - Xã Đ cho P (không rõ tên tuổi địa chỉ). Sau đó, K đi ra đầu phố T lấy chiếc xe máy đã cũ nát, xe không đeo biển số mà K đã mua trước đó để ở lòng đường, K điều khiển chiếc xe máy này đến Trung tâm T2 mang vào bãi gửi xe để lấy thẻ gửi xe. Sau khi gửi xe, K đi bộ ra chốt kiểm soát vé gặp chị Bùi Thị T là nhân viên soát vé ra của bãi gửi xe, K hỏi chị T: “Bây giờ anh đi có việc, anh gửi xe ở đây và đưa vé cho người nhà đến lấy có được không?” thì chị T trà lời là “Được". K đi bộ ra chỗ N đứng và đưa chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu trắng, xe mang BKS: 29L5-342.26 của chị Nguyễn Thanh H và thẻ gửi chiếc xa máy đã cũ nát của K cho N. N đưa xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ BKS: 29D2-727.09 cho K. Sau đó, N cầm vé gửi xe, chìa khóa xe và đi bộ vào bãi gửi xe, N bấm nút phát tín hiệu tìm xe trên chìa khóa thì thấy xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu trắng mang BKS: 29L5-342.26 của chị Nguyễn Thanh H nháy đèn xi nhan sau. N lấy xe máy trên đi ra chốt bảo vệ ở lối ra, sau khi đưa thẻ gửi xe máy và tiền gửi xe cho anh Nguyễn Tiến M là nhân viên thu vé đang ngổi ở trong bốt bảo vệ, do sơ suất nên anh M không kiểm tra trên màn hình hệ thống kiểm soát xe và bấm mở barie, N điều khiển xe ra ngoài mà không lấy lại tiền thừa. Khi thấy N điều khiển xe máy đi ra. K điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29D2-727.09 đi theo N, cả hai đi đến khu vực chợ hoa Q thì N đưa chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode, BKS: 29L5-342.26 vừa trộm cắp được cho K, K đưa lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29D2-727.09 cho N. K thỏa thuận sẽ chia đôi tiền bán chiếc xe máy vừa trộm cắp được cho N. Sau đó, K điều khiển chiếc xe máy vừa trộm cắp được đến khu vực ngõ 77 T và để chiếc xe máy cùng chìa khóa ở trong hốc để đồ. Sau dó, K sử dụng điện thoại của mình chụp ảnh chiếc xe, chụp ảnh số khung, số máy và gửi qua Zalo cho P với mục đích để P xem xe và thỏa thuận mua bán, hai bên thống nhất giá bán xe là 6.000.000đ, K để xe máy tại đây và thông báo cho P biết vị trí để xe máy và đi về khu vực Xã Đàn .

Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, chị Nguyễn Thanh H ra bãi gửi xe để lấy xe máy thì phát hiện chiếc xe máy của mình đã bị kẻ gian trộm cắp mất và không thấy khóa từ xe máy của mình đâu. Chị H đã báo lại sự việc cho Ban T2. Ngày 15/02/2024, chị H đến Công an phường P trình báo sự việc.

Ngày 22/02/2024, Công an quận T đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đào Văn K, Nguyễn Văn N.

Tang vật thu giữ:

  • + Của Nguyễn Văn N: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Spacy, màu trắng, BKS: 29E1 – 696.85, số khung: JF04 - 1607471; số máy: JF04E - 2215212, xe đã qua sử dụng.
  • + Tại hiện trường: 01 xe máy nhãn hiệu Longin, không xác định được số khung, số máy.
  • + Của Đào Văn K: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A10S màu đen.

Kết luận định giá tài sản số 17 ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận T, kết luận: “ Giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu trắng mang BKS: 29L5-342.26 trị giá 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng).”

Tại cơ quan điều tra, lời khai nhận tội của Đào Văn K phù hợp với nội dung đã nêu ở trên phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ thu thập được.

Lời khai của Nguyễn Văn N tại cơ quan điều tra phù hợp với diễn biến sự việc, phù hợp với hình ảnh Camera thu giữ được. Tuy nhiên, N khai nhận lấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu trắng, xe mang BKS: 29L5-342.26 của chị Nguyễn Thanh H ra khỏi trung tâm thương mại T2 và đưa lại cho Đào Văn K là do K nhờ N lấy hộ. Tuy nhiên tài liều đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của Nguyễn Văn N

Đối với đối tượng tên P là người mua chiếc xe K, N trộm cắp, K khai không biết họ, tên, tuổi địa chỉ của P nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Spacy, màu trắng, số khung: JF04 - 1607471; số máy: JF04E - 2215212, đeo BKS: 29E1 - 696.85, đăng ký tên anh Hoàng Vũ T1, xe có là BKS: 29F6 - 4785. Anh Hoàng Vũ T1 khai chiếc xe trên anh đã bán khoảng gần 10 năm nay, anh không nhớ đã bán cho ai. Cơ quan CSĐT Công an quận T đã thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe máy trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Kết quả tra cứu trên dữ liệu xe máy tang vật: Không có dữ liệu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Spacy, màu trắng, số khung: JF04 - 1607471; số máy: JF04E - 2215212 trên hệ thống dữ liệu xe máy tang vật; Kết quả tra cứu BKS: 29E1 - 696.85, đăng ký tên Hoàng Thị Minh C. Chị C khai chiếc xe máy trên hiện chị vẫn đang sử dụng, xe không bị mất biển số. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu 01 xe máy nhãn hiệu Longin, không xác định được số khung, số máy. Ngày 20/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã tách tài liệu liên quan đến 2 chiếc xe máy trên để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Cáo trạng số 156/CT – VKS ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 - BLHS; Đào Văn K về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 188/2024/HSST ngày 24/9/2024 của TAND quận Tây Hồ, TP . đã quyết định: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2024.

Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo khác, về dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 07/10/2024 bị cáo N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo xác định chỉ K lừa bị cáo lấy xe, bị cáo không biết xe máy đó không phải là của K, bị cáo chỉ đi lấy hộ K. Mong HĐXX minh oan cho bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, căn cứ nhân thân bị cáo xác định Tòa án quận T xử phạt bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 – BLHS là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của BLTTHS bác yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo đã tuân thủ đúng theo quy định về chủ thể, thủ tục và thời hạn kháng cáo tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Ngày 08/02/2024, tại bãi gửi xe của Trung tâm T2 địa chỉ F L, phường P, quận T, sau khi được Đào Văn K rủ rê thì Nguyễn Văn N đã đồng ý phối hợp với Đào Văn K, bằng thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người trông xe, K gửi xe máy của mình vào bãi gửi xe rồi đưa thẻ gửi xe cho N vào bãi gửi xe tráo lấy xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode BKS 29L5-342.26 của chị Nguyễn Thanh H trị giá 27.000.000đồng ra ngoài chót lọt.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kêu oan, xét thấy: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo K phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và hình ảnh trích xuất camera, bản thân K và N đều là người có nhân thân xấu, nhiều lần từng bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, giữa K và N quen biết nhau và không có mâu thuẫn, do vậy đủ cơ sở xác định lời khai của bị cáo K là có căn cứ, về nhân thân bị cáo N có 3 tiền án chưa được xóa nên Tòa án quận T kết bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 – BLHS với tình tiết tái phạm nguy hiểm là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật, do vậy bị cáo không bị oan.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không thành khẩn khai báo, không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ gì mới, Tòa án quận T xử phạt bị cáo mức án 42 tháng tù là phù hợp, do vậy không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bác yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 188/2024/HSST ngày 24/9/2024 của TAND quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
  2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2024.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - VKSND Thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Tây Hồ;
  • - VKSND quận Tây Hồ;
  • - Chi cục THADS quận Tây Hồ;
  • - Trại tạm giam số 1;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Chử Phương Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1081/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 1081/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger