|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2023/HNGĐ-ST
Ngày 30/10/2023
"Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hiệu
Ông Nguyễn Đăng Khoa
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Mạnh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2023/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, vụ án giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Ngọc H, sinh năm: 2000; HKTT: Đội 1, P, Hồ N, thành phố H, tỉnh Hưng Yên
Bị đơn: Anh Dang M, sinh năm: 1993; Hiện cư trú tại: H Ceské Velenice cộng hòa S 378 10. Địa chỉ: Huyện J, C, N 180
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Số A V, Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Phan Ngọc H cũng như biên bản lấy lời khai của bị đơn anh Michal D, văn bản của anh D gửi về Tòa án trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dang M được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thành phố H vào ngày 12/3/2019. Anh chị quen biết nhau thông qua giới thiệu của hai bên gia đình. Sau khi kết hôn chị H vẫn ở tại Việt Nam sinh sống, anh M quay trở về nước tại công hòa Séc sinh sống. Trong quá trình chung sống, anh chị không có nhiều thời gian chung sống cùng nhau. Mặt khác do bất đồng ngôn ngữ, khác biệt văn hóa giữa hai nước nên tình cảm của anh chị ngày càng rạn nứt. Đến nay cả hai anh chị đều xác định không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho chị H được ly hôn với anh M. Anh chị không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.
Hiện tại anh Dang M không có mặt tại Việt Nam nên anh M có ủy quyền cho chị H thay anh nhận và giao các văn bản cho Tòa án, anh M và chị H cùng đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Chị H trình bày về cách viết tên của anh Dang M. Anh có họ là Đặng tên là M. Nếu viết theo quy tắc tiếng cộng hòa S là Michal D, nếu theo quy tắc tiếng Việt Nam sẽ là Dang M. Chính vì vậy tại Giấy chứng nhận kết hôn có viết tên anh theo quy tắc viết tiếng Việt Nam là Dang M. Tuy nhiên khi ký tên anh ký tên theo tiếng Séc. Chị xác định Michal Dang hay Dang M là một người. Tên tiếng Việt Nam của anh Dang M là Nguyễn Minh K, tuy nhiên đây chỉ là tên gọi thường ngày tại Việt Nam, không được đăng ký trên giấy khai sinh.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ chị H trình bày:
Về điều kiện, hoàn cảnh, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, cũng như mâu thuẫn vợ chồng như chị H và anh M trình bày, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh M và bà H1 yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại công văn số 21377/QLXNC-P4 ngày 16/8/2023 của Cục Q Bộ C về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của người nước ngoài cung cấp: Từ năm 2007 đến nay, ông Dang M, sinh ngày 27/10/1993, sử dụng hộ chiếu Sec số 45976450 đã nhập xuất cảnh Việt Nam nhiều lần; lần gần nhất nhập cảnh ngày 18/01/2020 và xuất cảnh ngày 25/02/2020 qua cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế N.
Tại công văn số 1683/UBND-TP ngày 22/8/2023 về việc cung cấp thông tin kết hôn có yếu tố nước ngoài của UBND thành phố H, tỉnh Hưng Yên cung cấp: Chị Phan Ngọc H và anh Dang M đã đăng ký kết hôn tại UBND thành phố H vào ngày 12/3/2019. Mọi quy trình liên quan đến đăng ký kết hôn của chị H và anh Dang M đều được chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đều vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.Các đương sự, người làm chứng đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phan Ngọc H.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về tố tụng: Chị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh M là người nước ngoài, hiện đang ở công hòa Sec, không có mặt tại Việt Nam nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp Hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn và những người làm chứng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và những người làm chứng.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Ngọc H Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh M là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do thời gian chung sống ngắn, bất đồng về ngôn ngữ và các nền văn hóa của hai nước. Thời gian anh chị ly thân nhau đến nay đã lâu, hiện tại mỗi người một nước, không tìm được tiếng nói chung cũng như chia sẻ với nhau về tình cảm và các vấn đề trong cuộc sống, cả anh M và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H xin ly hôn, anh M đồng ý. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh M đã thực sự trầm trọng, mục đích Hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xử cho chị H được ly hôn anh M.
[2.2]. Về con chung, tài sản chung: Anh chị không có gì, không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 229, Điều 470, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Ngọc H được ly hôn anh Dang M.
- Về con chung, tài sản chung: Không có, chị H và anh Dang M không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Phan Ngọc H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn. Đối trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 320 ngày 07/8/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, anh Michal D có quyền kháng cáo trong thời một tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Hữu Tăng |
Bản án số 108/2023/HNGĐ-ST ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 108/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân và gia đình
