TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HS-PT
Ngày: 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Công Hoàn
Ông Nguyễn Hữu Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 112/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trương Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo: Trương Văn T, sinh năm: 1992 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, Tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trương Văn T1 và bà: Lê Thị L; vợ: Chu Thị H, sinh năm: 1992 (đã ly hôn); có 01 con: sinh năm: 2014; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/10/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Trong vụ án còn có những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Văn T là đối tượng sử dụng ma túy đá từ tháng 10/2022. Quá trình sử dụng ma túy, T quen biết một người bạn ngoài xã hội tên L1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cũng là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 23/10/2023, T gặp L1 tại đường H, Phường C, thành phố Đ và được L1 cho 01 gói ma túy đá thì T nhận và cất giữ gói ma túy này để sử dụng. Khoảng 08 giờ ngày 24/10/2023, T đến phòng trọ của Lê Nhật M tại 1 T, Phường C, T, tỉnh Lâm Đồng để tham gia dọn dẹp đồ đạc (chậu cảnh, đôn...) trong phòng trọ của M và mang theo gói ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng ma túy cất giữ trong người. Lúc này, Tổ công tác Công an thành phố Đ đến kiểm tra, phát hiện trong bồn vệ sinh chỗ T đang đứng có bình nỏ thủy tinh và 01 (một) gói nylon màu trắng trong, bên trong gói nylon đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tại chỗ, T khai nhận bản thân có sử dụng ma túy đá và gói nylon bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và bình nỏ thủy tinh là gói ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy đá của T đang cất giữ trong người khi thấy Cơ quan Công an do lo sợ nên vào phòng vệ sinh vứt bỏ, để tiêu hủy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang ngay tại chỗ. Tiếp tục kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện 01 quẹt ga tự chế trên sàn nhà dưới chiếc bàn trong phòng trọ, T khai nhận đây là dụng cụ T dùng để sử dụng ma túy, khi thấy Cơ quan Công an T lấy ra định vứt bỏ nhưng đã làm rơi. Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại chỗ đối với T, M, Q, B, H1 và thu giữ, niêm phong tang vật nghi là ma túy theo quy định. Tiếp tục kiểm tra, Cơ quan Công an còn phát hiện nhiều chậu cảnh, đôn...nghi vấn liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nên đã phối hợp Viện kiểm sát thành phố Đ tiến hành kiểm đếm, thu giữ, tạm giữ để phục vụ công tác điều tra (BL 35,36,47-57).
* Tang vật thu giữ:
* Thu giữ, tạm giữ của Trương Văn T:
- 01 gói nylon, dạng túi Zíp màu trắng trong có đường chỉ màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (ẩm ướt đang có dấu hiệu tan chảy) nghi là ma túy.
- 01 (một) bình thủy tinh gắn ống thủy tinh và ống hút màu đen;
- 01 (một) quẹt ga tự chế;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu đen, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0344178279.
* Thu giữ, tạm giữ của Lê Nhật M:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0938868441.
* Thu giữ, tạm giữ của Bùi Văn Q1:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, màu vàng, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số: 0397252767.
Tại kết luận giám định số 1191/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng PC09 - Công an tỉnh L xác định: Mẫu chất ở dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1840g (không phẩy một tám bốn không gam), loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT; 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ (BL 27-30).
Cáo trạng số 145/CT-VKSÐL-LĐ ngày 19/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Trương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2024/HSST ngày 10-5-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam 24/10/2023.
Ngày 20/5/2024, bị cáo Trương Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trương Văn T là đối tượng sử dụng ma
túy, vào ngày 23/10/2023, Trương Văn T, được L1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho 01 gói ma túy đá thì T nhận và cất giữ gói ma túy này để sử dụng. Khoảng 08 giờ ngày 24/10/2023, T đến phòng trọ của Lê Nhật M tại 1 T, Phường C, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng để tham gia dọn dẹp đồ đạc (chậu cảnh, đôn...) trong phòng trọ của M và mang theo gói ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng ma túy cất giữ trong người. Do tổ công tác Công an thành phố Đ đến kiểm tra hành chính nên T đã vào phòng vệ sinh vứt bỏ gói ma túy trong bồn vệ sinh chỗ T đang đứng để tiêu hủy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang ngay tại chỗ. Tiếp tục kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện 01 quẹt ga tự chế trên sàn nhà dưới chiếc bàn trong phòng trọ, T khai nhận đây là dụng cụ T dùng để sử dụng ma túy, khi thấy Cơ quan Công an T lấy ra định vứt bỏ nhưng đã làm rơi. Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại chỗ đối với T, M, Q1, B, H1 và thu giữ, niêm phong tang vật. Trương Văn T khai nhận gói ma túy bị bắt quả tang thu giữ là của T được L1 cho mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Bản kết luận giám định số 1191/KL-KTHS ngày 27/10/2023, Phòng PCông an tỉnh L xác định: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1840g (không phẩy một tám bốn không gam), loại Methaphetamine.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có 1 tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam 24/10/2023.
- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đỗ Mạnh Hùng |
Bản án số 108/2024/HS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 108/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T 'Tàng trữ trái phép chất ma túy"
