Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Thu Thủy

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Vượng
  2. Ông Nguyễn Văn Tư

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Xuân Vượng – Kiểm sát viên

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị K, sinh năm 1965; tên gọi khác: Không có
  2. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà B, ngõ B, đường M, tổ A, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 7/12; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết); con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1930; có chồng: Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1957 (đã ly hôn); bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

  3. Họ và tên: Trịnh Bắc H1, sinh năm 1970; tên gọi khác: Không có
  4. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà F, ngõ D, đường M, tổ B, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 6/12; con ông: Trịnh Văn Đ và bà: Trần Thị H2 (đều đã chết); Vợ: Hoàng Hồng H3, sinh năm 1978 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • Năm 1992, UBND tỉnh H quyết định tập trung cải tạo 03 năm.
  • Năm 1995 bị TAND thị xã Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; đã được xoá án tích.
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 147 ngày 28/6/2003 của TAND thị xã Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đã chấp hành xong án phạt tù ngày 31/01/2005 và nộp án phí; ngày 19/10/2017 được Chi cục THADS thành phố B quyết định đình chỉ thi hành khoản tiền phạt bổ sung; đã được xoá án tích.
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 114 ngày 16/8/2006 của TAND thành phố Bác Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đã chấp hành xong án phạt tù và nộp án phí; ngày 19/10/2017 được Chi cục THADS thành phố B quyết định đình chỉ thi hành khoản tiền phạt bổ sung; đã được xoá án tích.
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 196 ngày 17/11/2010 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đã chấp hành xong án phạt tù ngày 21/02/2016; đến ngày 08/02/2023 được Chi cục THADS thành phố B quyết định đình chỉ thi hành án phí và khoản tiền phạt bổ sung; đã được xoá án tích.
  • Năm 2019 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc; đã chấp hành xong ngày 14/10/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà A, ngõ I, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người chứng kiến:

  1. Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1965 (vắng mặt)
  2. Anh Trần Đình V, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ B, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Bắc H1 có quen biết Nguyễn Thị K, H1 biết thông tin gia đình K có liên quan đến mua bán ma tuý. K khai biết H1 có sử dụng ma tuý.

Khoảng 18 giờ 30 phút giờ ngày 25/12/2023, Trịnh Bắc H1 đi bộ ra khu vực đường M thì gặp Nguyễn Thị K điều khiển xe mô tô BKS 98B3-860.78 đi trên đường. Tại đây, H1 nói với K: “Chị có biết chỗ lấy hàng không, lấy hộ em 1.000.000 đồng”. Do biết H1 sử sụng ma tuý nên K hiểu ý của H1 là nhờ mua hộ 1.000.000 đồng ma túy heroine. H1 hứa sẽ trả cho K 1.000.000 đồng tiền công sau khi nhận được ma túy thì K đồng ý. H1 đưa trước cho K 1.000.000 đồng để đi mua ma túy còn tiền công sẽ trả sau. K cầm tiền và hẹn khoảng 15 phút sẽ quay lại để giao ma túy. H1 đi bộ về nhà để chờ. Sau đó, K đi xe mô tô đến khu vực đầu cầu S. Theo K khai có gặp một người đàn ông không quen biết đeo khẩu trang ngồi trên xe mô tô, K hỏi mua ma túy heroine thì người đàn ông này đồng ý bán. K đưa 1.000.000 đồng thì người đàn ông này nhận tiền và bảo K đứng chờ. Sau đó, người đàn ông này đi xe mô tô khoảng 15 phút sau quay lại, chỉ cho K vị trí để một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thắng L ở ven đường. K đi ra nhặt vỏ bao thuốc lá rồi mở ra kiểm tra thấy bên trong có 02 gói giấy được quấn bằng dây chun màu đen, K biết trong mỗi gói giấy đều có ma tuý heroine nên cầm trong bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về ngõ A, đường M, phường M, thành phố B để giao ma túy cho H1. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H1 đi bộ từ nhà đến điểm hẹn thì gặp K đang đứng chờ. Tại đây, H1 đưa cho K 1.000.000 đồng tiền công mua ma túy gồm các tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng. K cầm tiền rồi đưa cho H1 02 gói giấy bên ngoài được quấn bằng dây chun màu đen, bên trong đựng ma túy heroine. Khi H1 vừa nhận 02 gói ma túy định ra về thì bị tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố B phát hiện. H1 ném 02 gói ma tuý về phía bờ tường cạnh vị trí H1 đang đứng còn K thả số tiền 1.000.000 đồng mà H1 đưa cho trước đó xuống nền đường nhưng bị tổ công tác phát hiện. Công an thành phố B lập biên bản bắt quả tang đối với Trịnh Bắc H1, Nguyễn Thị K và thu giữ số vật chứng, tài sản gồm:

  • 02 (hai) gói giấy được buộc cố định bằng dây chun nịt màu đen, mở ra kiểm tra bên trong mỗi gói đều đựng một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ, bên trong mỗi túi nilon đều đựng 15 (mười lăm) gói giấy, bên trong các gói giấy đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Tang vật do Trịnh Bắc H1 ném từ bàn tay phải sang vách bờ tường ngõ A, đường M được phát hiện thu giữ cho vào trong một phong bì thư ký hiệu “H1” dán kín niêm phong.
  • 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (tổng trị giá 1.000.000 đồng) phát hiện thu giữ tại nền đường cạnh vị trí Nguyễn Thị K đứng khi bị bắt. Tất cả được cho vào một phong bì thư ký hiệu “Tiền” dán kín, niêm phong.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 98B3-860.78; số tiền 2.870.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Thị K.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Bắc H1 tại số nhà F, ngõ D, đường M, phường M, thành phố B đã thu giữ:

  • 02 (hai) gói nilon, bên trong mỗi gói đựng 01 (một) gói giấy bạc có đặc điểm một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy phát hiện thu giữ tại mặt bàn ở góc nhà được cho vào một phong bì thư dán kín, niêm phong ký hiệu KX01.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị K tại số nhà B, ngõ B, đường M, phường M, thành phố B thu giữ:

  • 01 ví da màu trắng sữa bên trong có 4.600.000 đồng.
  • 01 ví da màu nâu đỏ, có kẻ caro bên trong có 10.000.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng lắp sim số 0838.435.265.
  • 01 hộp kim loại hình trụ màu đỏ bề mặt có chữ “Lu” mở ra bên trong có 01 quyển sổ màu nâu đỏ, nhiều mảnh giấy báo, nhiều dây nịt đen, nhiều vỏ túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, 03 dao lam; 02 túi nilon bên trong đựng nhiều túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ thu giữ trên giá gỗ để sách trong phòng khách.
  • 01 mắt camera wifi có chữ Hilook màu trắng .

Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định chất nghi ma tuý trong 02 phong bì được niêm phong đã thu giữ khi bắt quả tang và thu giữ khi khám xét nơi ở của Trịnh Bắc H1.

Kết luận giám định số 08/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

* Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “H1” được niêm phong gửi giám định:

Trong 02 (hai) gói giấy được buộc cố định bằng dây chun nịt màu đen:

  • Chất cục bột màu trắng đựng trong 15 (mười lăm) gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng (tất cả được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ) đều là ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,836 gam.
  • Chất cục bột màu trắng đựng trong 15 (mười lăm) gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng (tất cả được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ) đều là ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,897 gam.

* Trong 01 phong bì ký hiệu “KX01” được niêm phong gửi giám định:

Trong 02 (hai) gói nilon: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng đều là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,112 gam.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 25/12/2023 đối với Trịnh Bắc Hải dương t với ma tuý H4; Nguyễn Thị K âm tính với chất ma tuý.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; Camera wifi có chữ Hilook màu trắng và quyển sổ màu đỏ thu giữ của Nguyễn Thị K không phát hiện nội dung liên quan vi phạm pháp luật.

Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Thị K quan sát ảnh 02 gói giấy buộc bằng dây chun màu đen đã thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả K xác nhận chính là 02 gói ma tuý mà K đi mua sau đó đem về đưa cho H1 thì bị bắt.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thị K khai mua ma tuý giúp Trịnh Bắc H1 để được nhận tiền công và đã được H1 trả 1.000.0000 đồng tiền công. Trịnh Bắc H1 khai nhờ K mua ma tuý mục đích để sử dụng. Đối với 02 gói ma tuý thu giữ tại nhà H1 khi khám xét (giám định là Heroine, có tổng khối lượng 0,112 gam) thì H1 khai mua tổng số 03 gói ma tuý của một người đàn ông không quen biết vào ngày 23/12/2023 tại khu vực bờ đê Chi Ly với giá 300.000 đồng mục đích để sử dụng; H1 đã sử dụng hết 01 gói ma tuý; 02 gói ma tuý còn lại chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện, thu giữ.

Đối với người đàn ông mà K khai đã bán ma tuý nhưng K không biết thông tin về người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.

Đối với 01 mắt camera wifi có chữ Hilook; 01 ví da màu trắng bên trong có 4.600.000 đồng; 01 ví da màu nâu đỏ có hình kẻ karo bên trong có 10.000.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 98B3-860.78. Kết quả điều tra xác định những tài sản trên của chị Nguyễn Thị T là con gái Nguyễn Thị K và không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 25/12/2023, chị T đi làm tại tỉnh Lạng Sơn và để chiếc xe mô tô tại nhà. Chị T không biết K sử dụng chiếc xe trên thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng đối với số ma túy hoàn lại sau giám định và những vật chứng, tài sản đã thu giữ để xử lý theo quy định.

Bản Cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố:

Đối với Nguyễn Thị K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Trịnh Bắc H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo K, H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì.

- Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trịnh Bắc H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về trách nhiệm hình sự:

  • Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 26/12/2023. Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Bắc H1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 26/12/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 hộp kim loại hình trụ màu đỏ bề mặt có chữ “Lu” mở ra bên trong có 01 quyển sổ màu nâu đỏ, nhiều mảnh giấy báo, nhiều dây nịt đen, nhiều vỏ túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, 03 dao lam; 02 túi nilon bên trong đựng nhiều túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ;
  • Trả bị cáo K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng có số IMEI 1:“969574064335735”, số IMEI 2: “868574064335727”, lắp sim số “0838435265”; Số tiền 2.870.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (tổng trị giá 1.000.000₫);
  • Trả Nguyễn Thị T (con gái bị cáo K) 01 mắt camera wifi có chữ Hilook màu trắng đã qua sử dụng; 01 ví da màu trắng sữa, 01 ví da màu nâu đỏ, có kẻ caro; Số tiền 14.600.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn trắng, BKS: BKS: 98B3-860.78, đã qua sử dụng;
  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai thừa nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường H, thành phố B lập hồi 20 giờ 15 phút ngày 25/12/2023, vật chứng thu giữ và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Hành vi của các bị cáo còn được chứng minh bằng Kết luận giám định số: 08/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B đối với vật chứng thu giữ được giám định. Trên cơ sở lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Khoảng 18 giờ 30 phút giờ ngày 25/12/2023, Trịnh Bắc H1 đưa cho Nguyễn Thị K 1.000.000 đồng nhờ đi mua ma tuý heroine và hứa sẽ trả cho K 1.000.000 đồng tiền công. K điều khiển xe mô tô BKS 98B3-860.78 đi đến khu vực đầu cầu S mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma tuý heroine với giá 1.000.000 đồng. K cầm 2 gói ma tuý về giao cho H1 và được H1 trả 1.000.000 đồng tiền công thì bị Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang và thu giữ số vật chứng. Kết quả giám định 02 gói ma tuý mà K giao cho H1 là heroine, tổng khối lượng 1,733 gam. H1 khai mua số ma tuý trên mục đích để sử dụng.

Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Trịnh Bắc H1 thu giữ 02 gói ma tuý. Kết quả giám định là Heroine có tổng khối lượng 0,112 gam. H1 khai mua số ma tuý trên mục đích để sử dụng. Tổng khối lượng chất ma tuý của H1 tàng trữ khi bị bắt và khi khám xét là 1,845 gam heroine.

Cac bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi mua trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây những tác hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Trịnh Bắc H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Bản Cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo K là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo H1 có nhân thân không tốt.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo H1 có bố đẻ là ông Trịnh Văn Đ được tặng thưởng Huy chương chiến thắng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, bị cáo H1 đã từng bị đưa ra xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Mặt khác các tội phạm về ma túy còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội nên cần buộc các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi phạm tội khác. Mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy Kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là phù hợp nên áp dụng cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo K phạm tội có tính chất vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo K.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo H1.

[5] Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • 02 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 hộp kim loại hình trụ màu đỏ bề mặt có chữ “Lu” mở ra bên trong có 01 quyển sổ màu nâu đỏ, nhiều mảnh giấy báo, nhiều dây nịt đen, nhiều vỏ túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, 03 dao lam; 02 túi nilon bên trong đựng nhiều túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ cần tịch thu tiêu hủy:
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng có số IMEI 1: “969574064335735”, số IMEI 2: “868574064335727”, lắp sim số “0838435265”; Số tiền 2.870.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội trả bị cáo K nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (tổng trị giá 1.000.000đ) liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:
  • 01 mắt camera wifi có chữ Hilook màu trắng đã qua sử dụng; 01 ví da màu trắng sữa, 01 ví da màu nâu đỏ, có kẻ caro; Số tiền 14.600.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn trắng, BKS: BKS: 98B3-860.78, đã qua sử dụng trả lại Nguyễn Thị T (con gái của K)

[6] Về những vấn đề khác:

Đối với người đàn ông mà K khai đã bán ma tuý nhưng K không biết thông tin về người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Do các bị cáo đang bị tạm giam nên căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng:
  2. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

    Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trịnh Bắc H1 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/12/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106, của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 hộp kim loại hình trụ màu đỏ bề mặt có chữ “Lu” mở ra bên trong có 01 quyển sổ màu nâu đỏ, nhiều mảnh giấy báo, nhiều dây nịt đen, nhiều vỏ túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, 03 dao lam; 02 túi nilon bên trong đựng nhiều túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ;
    • Trả bị cáo K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng có số IMEI 1:“969574064335735”, số IMEI 2: “868574064335727”, lắp sim số “0838435265”; Số tiền 2.870.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (tổng trị giá 1.000.000₫);
    • Trả Nguyễn Thị T (con gái bị cáo K) 01 mắt camera wifi có chữ Hilook màu trắng đã qua sử dụng; 01 ví da màu trắng sữa, 01 ví da màu nâu đỏ, có kẻ caro; Số tiền 14.600.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn trắng, BKS: BKS: 98B3-860.78, đã qua sử dụng;
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; iêQuyeets

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • VKSND thành phố Bắc Giang;
  • TAND tỉnh Bắc Giang;
  • Công an thành phố Bắc Giang;
  • Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • UBND phường Mỹ Độ TP Bắc Giang;
  • Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn THị Khánh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger