|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do -Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2024/DS - PT Ngày 29-8-2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thu Hà và ông Nguyễn Văn Nghĩa
-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2023/TLPT–DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2023/DS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXPT – DS ngày 23 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “ Có mặt”.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1994;
địa chỉ: Số D đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc “Có mặt”.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; địa chỉ: Số D đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc “Có mặt".
Bị đơn: Ông Phan Văn T1, sinh năm 1954
Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc “Có mặt”.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1990; địa chỉ: số A đường C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc “Có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phan Văn N, sinh năm 1972 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn N: Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1973 (là vợ ông N) “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Ông Phan Văn T3, sinh năm 1966 “Có mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Ông Phan Văn T4, sinh năm 1963 “Có mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1962 “Có mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C1: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1994; địa chỉ: Số D đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc “Có mặt”.
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Bà Phan Thị H3, sinh năm 1957 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Khu tập thể B T, phường X, quận B, thành phố Hà Nội.
+ Bà Phan Thị N1, sinh năm 1960 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Khu D, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Bà Phan Thị N2, sinh năm 1969 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Bà Phan Thị N3, sinh năm 1975 “Vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Văn T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (ông Nguyễn Văn C), ông Nguyễn Quốc T trình bày:
Ông Nguyễn Văn C là chủ sử dụng hợp pháp diện tích đất ao khoảng 02 sào 08 thước (bắc bộ) thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguồn gốc đất do bố ông C là cụ Nguyễn Văn T5 để lại. Thông tin cụ thể của thửa đất là thửa 12, tờ bản đồ số 1A (nay là thửa đất số 357, tờ bản đồ số 11), phía đông: giáp ao nhà ông Phan Văn C2, phía tây: giáp ao nhà ông Phan Văn C3, phía nam giáp đất nhà ông Phan Văn H4, phía bắc: giáp đường liên thôn Đ, xã C. Gia đình ông C sử dụng ổn định, hàng năm vẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và địa phương. Tuy nhiên do diện tích đất ao bị ô nhiễm nặng không thể thả cá được nên khoảng tháng 8/2017 gia đình ông C mua đất để cải tạo ao chuyển sang trồng cây ăn quả. Trong lúc thi công thì ông Phan Văn T1 cùng các anh em khác trong gia đình ông T1 đã ra ngăn cản dẫn đến các bên xẩy ra mâu thuẫn. Ông T1 lấy lý do phần đất hành lang bao quanh diện tích đất ao và bụi Tre trên đất là của anh em ông T1. Do không thể thực hiện được việc đổ đất nên ông C đã có đơn đề nghị gửi Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị hòa giải tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông T1 không hợp tác và không tham gia bất kỳ buổi hòa giải nào dẫn đến không thể hòa giải được.
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn ông C chỉ đề nghị buộc ông T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả lại đất và thu dọn, tháo dỡ tài sản trên đất. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án ông T1, ông T4, ông T3 và ông N đều xác định cùng sử dụng diện tích đất hiện các đương sự đang tranh chấp. Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông Nguyễn Văn C đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Phan Văn T1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3, ông Phan Văn N phải trả lại cho ông C diện tích đất 54,8m² (theo kết quả xem xét, thẩm định của Tòa án) và phải tự thu dọn, tháo dỡ tài sản trên đất là 01 bụi Tre, cây cối lâm lộc khác trên đất.
Bị đơn ông Phan Văn T1 trình bày:
Đối với diện tích đất hiện ông Nguyễn Văn C đang khởi kiện đối với ông, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3 và ông Phan Văn N có nguồn gốc là của bố mẹ các ông để lại (bố là cụ Phan Văn Í, chết năm 2020 và mẹ là Lê Thị H5, chết năm 2017). Diện tích đất lũy tre gia đình bố ông đã trồng và sử dụng từ thời chống Pháp đến giờ từ đó đến nay thì gia đình vẫn sử dụng tre trên đất. Tại thời điểm này ông Phan Văn N là người trực tiếp quản lý phần diện tích đất này. Đối với quyền sử dụng đất thì gia đình đã sử dụng từ thời thực dân Pháp đến nay chứ không có quyết định giao đất của cơ quan hành chính có thẩm quyền. Hàng năm gia đình không phải chịu thuế đối với diện tích đất này, gia đình cũng không đo đạc để xác định diện tích cụ thể. Đối với diện tích đất và 01 bụi Tre trên đất thì thuộc quyền sử dụng chung của cả 04 anh em là T1, T4, T3, N chứ không phải thuộc quyền sở hữu, sử dụng duy nhất của ông N. Các chị em gái khác trong gia đình là bà Phan Thị H3, Phan Thị N1, Phan Thị N3, Phan Thị N2 thì đều nhường quyền lợi cho các ông, không đòi hỏi hay tranh chấp gì.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, ông không chấp nhận, toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C là không có căn cứ. Đồng thời ông yêu cầu ông C phải xin lỗi công khai và bồi thường danh dự cho gia đình ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Phan Văn T4 trình bày:
Ông đồng ý với ý kiến, quan điểm của ông T1. Ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Phan Văn T3 trình bày:
Ông đồng ý với ý kiến, quan điểm của ông T1. Ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Phan Văn N có văn bản ủy quyền cho bà Bùi Thị T2 (là vợ ông N). Bà T2 trình bày:
Bà đồng ý với ý kiến, quan điểm của ông T1. Ông N không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C. Đối với bà thì không có quyền lợi gì đối với diện tích đất hiện ông C đang khởi kiện cũng như tài sản trên đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị H3, bà Phan Thị N2, bà Phan Thị N3, bà Phan Thị N1 có ý kiến, lời trình bày thể hiện:
Đối với diện tích đất hiện ông Nguyễn Văn C đang khởi kiện thì các bà nhường toàn bộ quyền lợi cho ông Phan Văn T1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3 và ông Phan Văn N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị H2 có lời khai thể hiện:
Đối với diện tích đất hiện ông Nguyễn Văn C đang khởi kiện thì các bà không đòi hỏi gì về quyền lợi mà nhường toàn bộ quyền lợi cho ông C và ông C1.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Văn C1), ông Nguyễn Quốc T trình bày:
Mặc dù toàn bộ diện tích đất ao (trong đó có phần diện tích đất) có nguồn gốc là của bố mẹ ông C1 và ông C để lại nhưng do ông C đã đứng tên tại hồ sơ quản lý đất đai từ lâu nên ông không có ý kiến gì. Ông C1 đề nghị buộc ông Phan Văn T1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3 và ông Phan Văn N phải trả lại toàn bộ diện tích đất ao 54,8m² cho ông C. Trường hợp ông và ông C xẩy ra tranh chấp về quyền sử dụng thì ông sẽ tự giải quyết hoặc đề nghị giải quyết bằng một vụ việc khác.
Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2023/DS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định:
Căn cứ các Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 203 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Nguyễn Văn C. Buộc ông Phan Văn T1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3, ông Phan Văn N phải trả lại cho ông Nguyễn Văn C diện tích đất 54,8m2 tại thửa số 12, tờ bản đồ số 1A (theo Bản đồ 299) và là thửa số 357, tờ bản đồ số 11 (theo VN 2000) thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đồng thời ông T1, ông T4, ông T3, ông N có nghĩa vụ thu dọn tài sản trên đất là 01 bụi Tre, cây cối lâm lộc và tài sản khác trên đất (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Ngoài ra quyết định còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023 ông Phan Văn C4 kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại cấp phúc thẩm, bị đơn ông Phan Văn T1 thay đổi lời khai, ông T1 cho rằng diện tích đất tranh chấp có một phần nằm trong diện tích đất giao thông của UBND xã C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, của thư ký Toà án, việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi hội đồng xét xử vào nghị án và đường lối giải quyết vụ án phúc thẩm như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Toà án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên đã giúp cho Toà án đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn luật định.
Về đường lối giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án và đánh giá chứng cứ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thấy rằng: Nội dung kháng cáo của ông Phan Văn T1 có cơ sở để chấp nhận một phần.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm:
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ông Phan Văn T1.
Căn cứ 2 Điều 308, Điều 309; Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án sơ thẩm số 59/2023/DS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C;
Buộc ông Phan Văn T1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3, ông Phan Văn N phải trả lại cho ông Nguyễn Văn C diện tích đất 4,8 m² tại thửa đất số 12, tờ Bản đồ số 1A (Theo Bản đồ 299) thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có chỉ giới: 12-13-14-14'-12' -12.
Ông T1, ông T4, ông T3, ông N phải tháo dỡ một phần bụi tre và toàn bộ tài sản khác như cây cối, lâm lộc trên phần diện tích đất 4,8 m² tại thửa đất số 12, tờ Bản đồ số 1A (Theo Bản đồ 299) thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Theo trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 28/6/2024).
Về án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm và tiền chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông T1 nộp trong hạn luật định; ông T1 là người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên đơn kháng cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Theo hồ sơ quản lý đất đai tại UBND xã C, diện tích đất của hộ ông Nguyễn Văn C được thể hiện như sau:
Theo bản đồ địa chính năm 1987, thửa đất ông C sử dụng là thửa 527, tờ bản đồ số 4A, diện tích 948m² ghi “Ao” (Hồ). Theo Bản đồ 299 (được lập năm 1993) và sổ mục kê, thửa đất ông C sử dụng được thể hiện thửa đất số 12, tờ bản đồ 1A diện tích 765m² đứng tên chủ sử dụng đất Nguyễn Văn C. Nguồn gốc đất là đất ao của gia đình ông Nguyễn Văn C.
Diện tích đất ông Phan Văn T1 và ông Nguyễn Văn C tranh chấp được thể hiện theo Trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 28/6/2024 do Công ty cổ phần K lập có chỉ giới 1-2-16’-16-15-14-13-12-12’-1 có diện tích 54,8m². Trên diện tích đất tranh chấp có bụi tre do gia đình ông Phan Văn T1 trồng và một số cây cối lâm lộc khác.
Theo ông Nguyễn Văn C, diện tích đất tranh chấp là của gia đình ông, có nguồn gốc do bố ông C là cụ Nguyễn Văn T5 để lại, ông đề nghị Tòa án buộc ông Phan Văn T1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3, ông Phan Văn N phải trả lại diện tích đất tranh chấp 54,8m² và phải tự thu dọn, tháo dỡ tài sản trên đất là 02 bụi Tre, cây cối lâm lộc khác trên đất.
Theo ông Phan Văn T1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3 và ông Phan Văn N tại cấp sơ thẩm, các ông xác định diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là của bố mẹ các ông là cụ Phan Văn Í và cụ Lê Thị H5 để lại. Tại cấp phúc thẩm, ông T1 có quan điểm thể hiện toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm trong hành lang giao thông nên ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ngày 28/6/2024 thể hiện tại vị trí đang tranh chấp, đường liên thôn giáp với cạnh 1-2 đường rộng 6,60m; đường liên thôn giáp với cạnh 2-16 đường rộng 6,70m không nằm trong phần diện tích đất tranh chấp.
Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành đo đạc hiện trạng diện tích đất tranh chấp và diện tích đất của gia đình ông C, đối chiếu sơ đồ đo đạc hiện trạng và bản đồ 299 thấy rằng: Phần đất tranh chấp có diện tích 54,8m², có một phần diện tích tranh chấp nằm trong thửa đất số 12 tờ bản đồ số 1A (theo bản đồ 299) của gia đình ông C có diện tích 4,8 m² theo chỉ giới 12-13-14-14'- 12'-12, phần còn lại 50m² có chỉ giới 1-2-16’-16-15-14'-12'-1 không nằm trong thửa số 12 tờ bản đồ số 13 của gia đình ông C. Do vậy, trong phần đất tranh chấp, chỉ có một phần diện tích thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông C, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C, buộc ông T1, ông T4, ông T3, ông N trả lại cho ông C toàn bộ diện tích đất tranh chấp là không đúng, Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án sơ thẩm là chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C. Kháng cáo của ông Phan Văn T1 được Tòa án chấp nhận một phần.
Đối với phần diện tích đất 4,8 m² đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 12, tờ bản đồ số 1A, theo lời khai của ông C1, bà L, bà H2 thì diện tích đất này do bố mẹ các ông bà để lại, tuy nhiên theo sổ mục kê và sơ đồ địa chính đã đứng tên ông C, các ông bà không có ý kiến gì, nhường toàn bộ quyền cho ông C nên Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông T1, ông T4, ông T3, ông N phải trả lại cho ông C. Trên phần diện tích đất này có một phần bụi tre do ông T1, ông T4, ông T3, ông N quản lý và một số cây cối lâm lộc trên đất nên buộc ông T1, ông T4, ông T3, ông N phải tháo dỡ để trả lại đất cho ông C.
Đối với phần diện tích 50 m² đất tranh chấp không nằm trong thửa đất số 12, tờ bản đồ số 1A. Theo biên bản xác minh của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ngày 28/8/2024 UBND xã C xác định toàn bộ phần đất tranh chấp giữa ông C và ông T1 thuộc diện tích đất lưu không do UBND xã quản lý. Việc Ủy ban nhân dân xã C cung cấp diện tích đất đang tranh chấp là đất lưu không là đúng, vì “đất lưu không” là đất hành lang an toàn giao thông, hành lang lưới điện đê điều... hoặc nằm trong quy hoạch để phục vụ công trình công cộng, giao thông thủy lợi điện mà nhà nước chưa sử dụng đến nên hiện bỏ không. Do vậy, sau khi ốp bản đồ 299 thì phần đất 50m² này được xác định là đất nằm tiếp giáp đường liên thôn sử dụng làm lối đi chung. Theo UBND xã C thì diện tích đất này là đất do UBND xã C quản lý, trên đất có bụi tre và cây cối lâm lộc do gia đình ông T1 trồng; tuy nhiên UBND xã C cung cấp hiện tại diện tích đất này không nằm trong quy hoạch gì của nhà nước, UBND xã C cũng chưa có kế hoạch sử dụng diện tích đất này vào mục đích công ích, khi nào có kế hoạch thì UBND xã C sẽ thu hồi và yêu cầu gia đình ông T1 tháo dỡ tài sản trên đất. Do vậy, không cần thiết đưa UBND xã C vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Đối với phần án phí dân sự sơ thẩm, tại cấp sơ thẩm, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C, ông C và ông T1 đều có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, cấp sơ thẩm buộc ông C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là không đúng nên cấp phúc thẩm sửa lại phần án phí của Bản án sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn T1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C và ông Phan Văn T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ông Phan Văn T1.
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án sơ thẩm số 59/2023/DS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.
Buộc ông Phan Văn T1, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn T3, ông Phan Văn N phải trả lại cho ông Nguyễn Văn C diện tích đất 4,8m² tại thửa số 12, tờ bản đồ số 1A (theo Bản đồ 299) thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có chỉ giới: 12-13-14-14’- 12'-12 (Theo trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 28/6/2024).
Ông T1, ông T4, ông T3, ông N phải tháo dỡ một phần bụi tre và toàn bộ tài sản khác cây cối lâm lộc trên diện tích 4,8m2 tại thửa số 12, tờ bản đồ số 1A (theo Bản đồ 299) thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Theo trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 28/6/2024).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C và ông Phan Văn T1 được miễn án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Hiền |
8
9
Bản án số 108/2024/DS - PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 108/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất ao
