Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lâm Thị Nga
  2. Ông Nguyễn Công Chiếm

- Thư ký phiên toà: ông Triệu Việt Anh Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 578/2024/QĐXXST-HS ngày 14/5/2024, đối với các bị cáo:

Lê Phú Đ, sinh năm 2000; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Phòng trọ 18, nhà số B, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1972, con bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/5/2023, chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Nguyễn Phan Phương V, sinh năm 2003; Nơi sinh: thành phố Cần Thơ; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã N, huyện P, Thành Phố Cần Thơ; Nơi cư trú: Căn hộ số H, chung cư H, Tổ A, Khu phố C, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lễ tân quán karaoke; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phan Văn H1 (không rõ năm sinh), con bà Nguyễn Hồng N, sinh năm 1982; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/5/2023, chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Nguyễn Trí T, sinh năm 1998; Nơi sinh: tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1975, con bà Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/5/2023, chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Nguyễn Minh C, sinh năm 1996; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Ấp I, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Sơn Đ2, sinh năm 1961, con bà Hoàng Thị Đ3, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/5/2023, chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Võ Tuyết K, sinh năm 1996; Nơi sinh: tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: Ấp K, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Căn hộ số H, chung cư H, Tổ A, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 04/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Văn A (đã chết); Chồng, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/5/2023, chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Thanh T2; Địa chỉ nhà số D N, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
  2. Ông Trần Thanh Q; Địa chỉ 176, Ấp I, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt tại phiên tòa).
  3. Bà Trịnh Kiều D; Địa chỉ 1/19 T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trí T: Ông Phạm Văn Đ4 là luật sư thuộc Văn phòng L thuộc đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Tuyết K, Nguyễn Phan Phương V, Lê Phú Đ, Nguyễn Minh CNguyễn Trí T có mối quan hệ bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội. Bản thân K.V, Đ, C và T đều sử dụng trái phép chất ma túy. Tháng 2/2023, K và V cùng thuê ở tại căn hộ S, chung cư H, Tổ A, khu phố C, phường T, Quận A của anh Huỳnh Thanh T2 để ở với giá tiền 8.000.000 đồng/tháng, hợp đồng thuê căn hộ do K đứng tên. Sau đó, K và V mua 02 đèn chiếu và 01 loa nghe nhạc để mở khi sử dụng ma túy.

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 22/5/2023, Đ đến căn hộ K và V để chơi, sau đó C, T cũng đến đây cùng nhau ăn uống. Khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong Đ, T và C rủ nhau mua ma túy để sử dụng. Sau đó, Đ nhờ K đặt mua ma túy khay giúp Đ, K đồng ý và liên hệ qua mạng xã hội Z với một người tên T3 (không xác định) đặt mua 01 gói ma túy khay với giá tiền 2.000.000 đồng. T3 đồng ý bán và hẹn giao ma túy ở khu vực dưới chung cư H. Lúc này, Đ đưa cho V số tiền 2.000.000 đồng rồi K cùng V đi xuống chung cư gặp T3 để nhận ma túy. V đưa cho T3 số tiền 2.000.000 đồng còn K nhận 01 gói ma túy rồi cả hai đem ma túy vào phòng ngủ của K và V. Sau đó, V cùng với Đ, C và T cùng nhau sử dụng ma túy. Riêng K không tham gia sử dụng ma túy. Số tiền 2.000.000 mua ma túy, Đ không yêu cầu T và C góp.

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 24/5/2023, Đ tiếp tục đến căn hộ của V và K. Đến 13 giờ cùng ngày, Đ đi xuống chung cư đón C và T lên căn hộ. Sau đó, cả ba cùng bàn bạc thống nhất góp tiền mua 02 gói ma túy khay và 04 viên thuốc lắc cùng nhau sử dụng với V và K. Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, Đ liên hệ với một người phụ nữ qua mạng xã hội Zalo tên “H2” (không xác định) đặt mua 02 gói ma túy khay và 04 viên ma túy thuốc lắc. “Hồ N” báo giá tiền 02 gói ma túy khay là 4.900.000 đồng, 04 viên ma túy thuốc lắc là 1.000.000 đồng, phí ship hàng qua G là 20.000 đồng. Tổng số tiền phải trả cho “Hồng Thơ Beauty” là 5.920.000 đồng và hẹn sẽ giao ma túy cho Đ bằng xe ôm Grap. Do Đ không có tiền trong tài khoản ngân hàng nên Đ nói T chuyển số tiền trên qua tài khoản ngân hàng của “Hồ N” rồi Đ, C và T sẽ chia đều số tiền mua ma túy trên. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, có nhân viên xe ôm G đến khu vực trước chung cư giao ma túy cho Đ. Ma túy được cất giấu trong loa mô hình và bỏ trong hộp giấy, sau khi nhận ma túy Đ đã vứt bỏ hộp giấy, loa mô hình vào thùng rác ở khu vực dưới chung cư và đem ma túy lên căn hộ 8.01 để trên giường trong phòng ngủ thứ 2 của K và V. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, Nguyễn Thanh N2 là bạn của Đ và C cũng đến căn hộ trên để chơi và ăn uống cùng nhóm của Đ.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong thì Đ, C, T, V và K vào trong phòng ngủ của V và K để sử dụng ma túy. Còn N2 ngồi ngoài phòng khách chờ bạn tên Hà Thị Trà M đến căn hộ để chơi. Trong phòng lúc này có sẵn đĩa sứ, thẻ nhựa và tờ tiền 10.000 đồng cuộn tròn (đĩa sứ của V, K, thẻ nhựa và tiền là của Đ). Đ lấy 01 ít ma túy khay trong 02 gói nylon đổ ra đĩa rồi cùng với K, V, C, T tự sử dụng, số ma túy còn lại trong 02 gói nylon Đ cất giấu trong hộp vải màu xanh trong phòng khi cần sẽ lấy sử dụng. Khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì V lấy 01 gói nylon chứa 04 viên ma túy đang để trên giường đem qua phòng thứ nhất trong căn hộ cất giấu rồi quay trở lại tiếp tục sử dụng ma túy. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Hà Thị Trà M đến căn hộ, M và N2 ngồi ngoài phòng khách nói chuyện. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, M và N2 đi vào phòng mà K, V, Đ, C và T đang sử dụng ma túy thì bị Công an vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang (bút lục 103-106).

Kết quả xét nghiệm Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T, Nguyễn Phan Phương V, Võ Tuyết K, Nguyễn Thanh N2 đều dương tính với ma túy tổng hợp. Riêng Hà Thị Trà M âm tính với các chất ma túy (bút lục 329-335).

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Tuyết KNguyễn Phan Phương V tại căn hộ S, chung cư H, Tổ A, khu phố C, phường T, Quận A, Cơ quan CSĐT Công an Q2 đã phát hiện thu giữ trong phòng ngủ thứ nhất có 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu xanh do V đem cất giấu để sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Phan Phương V, Võ Tuyết K, Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên (bút lục 238-241; 257-267; 276-284; 295-298; 301-302; 389-394).

Nguyễn Thanh N2Hà Thị Trà M trình bày: N2 và M đến căn hộ H, chung cư H để chơi và ăn uống cùng với nhóm của Đ. Khi N2 và M vào trong phòng mà nhóm của Đ đang sử dụng ma túy thì bị Công an vào kiểm tra. N2 và M không biết ma túy là của ai và cũng không góp tiền mua ma túy cùng nhóm của Đ. Bản thân N2 trước đó có sử dụng ma túy nhưng không sử dụng cùng nhóm của Đ, M không sử dụng ma túy (bút lục 182-183; 187-188).

Kết quả làm việc với anh Huỳnh Thanh T2, chủ căn hộ 8.01, chung cư H, Tổ A, khu phố C, phường T, Quận A: Anh T2 trình bày cho Võ Tuyết KNguyễn Phan Phương V thuê căn hộ để ở và buôn bán mỹ phẩm, anh T2 không biết K và V sử dụng để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy (bút lục 172-173).

Kết quả kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu vàng của Võ Tuyết K, không có nội dung, tin nhắn liên quan đến việc mua ma túy vào ngày 22/5/2023 (bút lục 125).

Kết quả kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu tím của Lê Phú Đ có cuộc gọi, tin nhắn zalo liên quan đến việc mua ma túy từ tài khoản “Hồ N” (bút lục 128).

Cơ quan điều tra đã xác minh địa chỉ của đối tượng Nguyễn Thị Hồng T4 tại số A L, Khu phố F, phường T, quận B thì tại địa chỉ trên Nguyễn Thị Hồng T4 không thực tế cư trú và cũng không đăng ký thường trú hay tạm trú nên chưa làm việc được (bút lục 167).

Kết luận giám định số 5624/KL-KTHS, ngày 01 tháng 6 năm 2023, của Phòng K2-Công an Thành phố H, kết luận (bút lục 98):

Gói 01: Bột màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các dấu vân tay màu đỏ, các chữ ký ghi tên Võ Tuyết K, Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T, Nguyễn Phan Phương V và hình dấu Công an phường T, Quận A, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5141g, loại Ketamine.

Gói 02: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các dấu vân tay màu đỏ, các chữ ký ghi tên Võ Tuyết K, Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T, Nguyễn Phan Phương V và hình dấu Công an phường T, Quận A, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,8981g, loại Ketamine.

Gói 03: 04 viên nén màu xanh trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các dấu vân tay màu đỏ, các chữ ký ghi tên Võ Tuyết K, Nguyễn Phan Phương V và hình dấu Công an T, Quận A, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,4428g, loại MDMA.

* Vật chứng thu giữ (bút lục 113-121):

  • 03 gói ma túy đã được niêm phong vụ số 1193.
  • 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng; 01 hộp vải màu xanh.

- Thu giữ của Võ Tuyết KNguyễn Phan Phương V: 01 loa, 02 đèn chiếu.

- Thu giữ của Võ Tuyết K: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng; tiền Việt Nam 1.000.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 69K1-416.91 do K đứng tên chủ sở hữu.

- Thu giữ của Nguyễn Phan Phương V: 01 điện thoại di động hiệu Iphone.

- Thu giữ của Nguyễn Minh C: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone màu đen tím; 01 xe ô tô biển số 61A-969.30, qua xác minh xe trên do anh Trần Thành Q1 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 22/5/2023, C thuê xe của anh Q1 với giá 1.000.000 đồng để đi công việc, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Q1.

- Thu giữ của Nguyễn Trí T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen tím.

- Thu giữ của Lê Phú Đ: 02 điện thoại di động hiệu Iphone (01 cái màu đen tím, 01 cái màu xanh đen); tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 50Y1.250.41, qua xác minh xe do Lê Văn N3 đứng tên chủ sở hữu, sau đó bán lại cho anh Lê Công T5 tại cửa hàng X. Đến ngày 22/5/2023, anh T5 bán lại xe trên cho chị Trịnh Kiều D. Ngày 23/5/2023, D nhờ Đ điều khiển đi gắn thêm phụ tùng cho xe, sau đó Đ điều khiển đến chung cư H để sử dụng ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D.

Tại Bản cáo trạng số: 56/CT-VKS ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo

Lê Phú Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nguyễn Phan Phương V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Võ Tuyết K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Phú Đ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phan Phương V từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Tuyết K từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trí T: Thống nhất về tội danh và điều luật mà bản cáo trạng truy tố. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử xem cho bị cáo Nguyễn Trí T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa hôm nay bị cáo T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo T có ông cố ngoại tên Đào N4 là liệt sĩ và bà cố ngoại là bà Lê Thị T6 đã được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạn nhất và hạng Nhì nên đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo mức thấp nhất đề nghị của Viện Kiểm S.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ảnh xác định hiện trạng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 22/5/2023 và 24/5/2023, Nguyễn Phan Phương V, Võ Tuyết K sử dụng địa điểm do mình quản lý tại căn hộ S, chung cư H, Tổ A, khu phố C, phường T, Quận A và cung cấp 01 đĩa sứ, 01 loa, 02 đèn chiếu để Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T sử dụng chất ma túy. Hành vi của Nguyễn Phan Phương VVõ Tuyết K cung cấp địa điểm, dụng cụ để Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T cùng nhau sử dụng ma túy vào ngày 22/5/2023 và ngày 24/5/2023. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Phan Phương V, Võ Tuyết K phạm tội phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Vào ngày 22/5/2023, Lê Phú Đ mua 2.000.000 đồng ma túy khay sau đó cho Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí TNguyễn Phan Phương V cùng sử dụng.

Vào ngày 24/5/2023, Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T góp tiền mua ma túy, sau đó cho Nguyễn Phan Phương V, Võ Tuyết K cùng sử dụng.

Hành vi của Lê Phú Đ mua ma túy cho Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T, Nguyễn Phan Phương V sử dụng vào ngày 22/5/2023 và hùn tiền với C, T mua ma túy để sử dụng vào ngày 24/5/2023, sau đó cho Nguyễn Phan Phương VVõ Tuyết K sử dụng chung. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Phú Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T cùng nhau hùn tiền với Lê Phú Đ để mua ma túy sử dụng vào ngày 24/5/2023, sau đó cho Nguyễn Phan Phương VVõ Tuyết K sử dụng chung. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Vào ngày 24/5/2023, Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T có hành vi tàng trữ 3,4122g ma túy, loại Ketamine và 1,4428g ma túy, loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T tàng trữ 3,4122g ma túy, loại Ketamine và 1,4428g ma túy, loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Phú Đ, Nguyễn Minh C, Nguyễn Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp tàng trữ 02 chất ma túy trở lên quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Vào ngày 24/5/2023, Nguyễn Phan Phương V có hành vi tàng trữ 1,4428g ma túy, loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Phan Phương V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Trong vụ án này bị cáo Đ là người rủ bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã hai lần mua ma túy và tổ chức cho các bị cáo khác sử dụng ma túy nên bị cáo Đ có mức án cao hơn các bị cáo khác. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu nên cần áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáoThức cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo có ông cố ngoại tên Đào N4 là liệt sĩ và bà cố ngoại là bà Lê Thị T6 đã được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và hạng nhì nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo C cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương xác nhận gia đình bị cáo thuộc diện khó khăn ở địa phương, mẹ bị cáo là bà Hoàng Thị Đ3 hiện nay bị bệnh rất nặng bị cáo C là lao động chính trong gia đình nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo V và bị cáo K đã hai lần sử dụng địa điểm do mình quản lý tại căn hộ S, chung cư H, Tổ A, khu phố C, phường T, Quận A và cung cấp 01 đĩa sứ, 01 loa, 02 đèn chiếu để cho các bị cáo khác sử dụng chất ma túy nên có mức án cao hơn bị cáo T và bị cáo C. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo V và K trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu nên cần áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo V và K. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hành vi của các bị cáo Đ, V, C, T, K có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với Nguyễn Thanh N2Hà Thị Trà M1, không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy với các bị can nên không xem xét xử lý.

Đối với người phụ nữ tên “Ty” bán ma túy cho Võ Tuyết K vào ngày 22/5/2023, do không xác định được lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Thị Hồng T4, là người bán ma túy cho Lê Phú Đ vào ngày 24/5/2023, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe ô tô biển số 61A-969.30 cho Trần Thành Q1 và 01 xe mô tô biển số 50Y1.250.41 cho chị Trịnh Kiều D.

- Đối với: 03 gói ma túy đã được niêm phong vụ số 1193,01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 hộp vải màu xanh, 01 loa, 02 đèn chiếu không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động iphone màu vàng đen của K, 01 điện thoại di động iphone màu đen tím của Đ, 01 điện thoại di động iphone màu đen tím của T các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Cần Trả lại cho các bị cáo các tài sản sau:

  • 01 xe mô tô biển số 69K1-416.91, số khung: RP8M82514NV051142, số máy KF2GE0044577 cho Võ Tuyết K;
  • 01 điện thoại di động iphone màu đen tím cho V;
  • 01 điện thoại di động iphone màu đen tím cho C ;
  • 01 điện thoại di động màu xanh đen và số tiền 2.000.000 đồng cho Đ;
  • Số tiền 1.000.000 đồng của K.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 255; và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Lê Phú Đ 08 (tám) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Phú Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính 24/5/2023.

Căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 255; và điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Phan Phương V 08 (tám) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Phan Phương V phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính 24/5/2023.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh C 07 (bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính 24/5/2023.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trí T 07 (bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Trí T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính 24/5/2023.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Võ Thị Tuyết K1 08 (tám) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính 24/5/2023.

[2]. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • Tịch thu tiêu hủy: 03 gói ma túy đã được niêm phong vụ số 1193, 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa; 01 hộp vải màu xanh, 01 loa, 02 đèn chiếu.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng, 01 điện thoại di động iphone màu vàng đen của K1, 01 điện thoại di động iphone màu đen tím của Đ, 01 điện thoại di động iphone màu đen tím của T.
  • Trả lại cho Võ Tuyết K1: 01 xe mô tô biển số 69K1-416.91, số khung: RP8M82514NV051142, số máy KF2GE0044577;
  • Trả lại cho Nguyễn Phan Phương V 01 điện thoại di động iphone màu đen tím;
  • Trả lại cho Nguyễn Minh C: 01 điện thoại di động iphone màu đen tím;
  • Trả lại cho Lê Phú Đ: 01 điện thoại di động màu xanh đen và số tiền 2.000.000 đồng.
  • Trả lại cho Võ Tuyết K1 số tiền 1.000.000 đồng.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 45/QĐ-VKS, ngày 25/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • TAND TPHCM (1b);
  • VKSND TPHCM (1b);
  • Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • Phòng PC53 CА ТР. НСМ; (01)
  • VKSND Quận 12 (1b);
  • Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • UBND nơi bị cáo cư trú (1b);
  • Bị cáo, bị hại (2b);
  • Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • Lưu (vt, hs) (8b).

Hội thẩm nhân dân

Lâm Thị Nga

Nguyễn Công Chiếm

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger