Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2023/HS-ST

Ngày: 28/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi bà Nguyễn Thị Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Đăng K, sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã K, huyện P, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đăng H – sinh năm 1949 và con bà Nguyễn Thị N – sinh năm 1956 (đều đã chết) vợ: đã ly hôn; con: có 01 con sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 21/10/2023 được huỷ bỏ biện pháp quyết định tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. (có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Miếu cụ H1, thôn M, xã Đ, huyện Ứ, TP .; Người đại diện theo pháp luật: bà Trịnh Thị T – Trưởng thôn (vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tiến S - sinh năm 1961 (vắng mặt)

HKTT: thôn N, xã N, huyện P, TP Hà Nội

* Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1958 (vắng mặt)

HKTT: Thôn M, xã Đ, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 13/10/2023, Trần Đăng K, sinh năm 1984, trú tại thôn V, xã K, huyện P, thành phố Hà Nội điều khiển xe đạp từ chợ Mới, xã P, huyện Ứ về nhà mình ở huyện P. Khi đến địa phận thôn M, xã Đ, huyện Ứ, K quan sát thấy bên trái đường có miếu “Cụ H1”, cửa miếu K1, xung quanh không có ai nên nảy sinh ý định vào bên trong trộm cắp tài sản. K đạp xe đi dọc đường tỉnh lộ 428 và xin được người đàn ông ở ven đường 01 thanh kim loại dài khoảng 40cm rồi quay lại miếu. K đi vào sát cửa dùng thanh kim loại vừa xin được cạy ổ khóa cửa miếu L cửa ra. Sau đó K đi vào bên trong bê 01 bức tượng và 01 hòm gỗ ra để lên yên sau xe đạp, dùng 01 vỏ bao tải đậy lên trên, K tiếp tục lấy 03 hộp bánh mang ra để vào giỏ xe đạp, cho 01 vòng gồm 03 chuỗi các hạt màu trắng vào túi quần bên trái đang mặc, rồi đạp xe đi về nhà theo hướng huyện P, thành phố Hà Nội.

Khoảng 11 giờ cùng ngày, bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958, trú tại thôn M, xã Đ phát hiện miếu bị mất trộm nên đã báo cho bà Trịnh Thị T là trưởng thôn Mỹ Cầu và cùng một số người dân đi tìm, khi đi đến thôn C, xã M, huyện Ứ thì phát hiện K cùng các vật chứng nên đưa Trần Đăng K về Công an xã Đ làm việc. Tại đây, K đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 bức tượng kích thước (74,5x34,5x32)cm được sơn màu, ở mặt sau lưng cửa tượng bị bong tróc sơn lộ lớp đất bên trong kích thước (17x12)cm và 01 vết diện (4x2) cm. Mặt trước của tượng có rải rác 04 vết trầy bong lớp sơn có kích thước lần lượt là (1x1) cm, (4,5x1) cm, (8x10)cm và (1x1) cm.
  • 03 hộp bánh có kích thước mỗi hộp là (14,5 x 22 x 9) cm, vỏ bằng kim loại, nhãn hiệu “ Julie's" loại 224g. Hạn sử dụng 01/12/2023.
  • 01 hòm gỗ H3 kích thước (25x35x15)cm, không bị hư hỏng, có khóa ở tình trạng mở bên trong có: 01 chiếc khăn vải hình tam giác màu đen, cạnh dài nhất là 124cm, cao 60cm; 01 chiếc khăn vải màu đen, hình chữ nhật có thêu hoa văn, kích thước (167x117)cm; 01 chiếc khăn vải màu đen, hình chữ nhật có thêu hoa văn kích thước (125x42)cm; 01 túi gấm dài 46cm rộng nhất 6cm; Số tiền 155.000₫ (một trăm năm mươi năm nghìn đồng) gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, 07 tờ tiền mệnh giá 5000đ.
  • 01 vòng gồm 03 chuỗi các hạt màu trắng, dạng hạt nhựa trong đó có 01 chuỗi bị đứt làm tuột rời các hạt.
  • 01 chiếc xe đạp mini màu xanh đen đã cũ; 01 chiếc tải màu trắng đã qua sử dụng bị rách, 01 thanh kim loại có vân xoắn trên bề mặt dài 44cm, đường kính 1,5cm.

Ngày 16/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 64 đối với các tài sản bị trộm cắp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐGTS, ngày 18/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ứ, kết luận:

  • 01 bức tượng kích thước (74,5x34,5x32)cm được sơn màu, ở mặt sau lưng cửa tượng bị bong tróc sơn lộ lớp đất bên trong kích thước (17x12)cm và 01 vết diện (4x2) cm. Mặt trước của tượng có rải rác 04 vết trầy bong lớp sơn có kích thước lần lượt là (1x1) cm, (4,5x1) cm, (8x10)cm và (1x1) cm có trị giá 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng)
  • 03 hộp bánh có kích thước (14,5 x 22 x 9) cm, vỏ bằng kim loại, nhãn hiệu “ Julie's" loại 224g. Hạn sử dụng 01/12/2023 có trị giá 291.000đ (hai trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
  • 01 hòm gỗ H3 kích thước (25x35x15)cm, không bị hư hỏng, có khóa ở tình trạng mở có trị giá 667.000đ (sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
  • 01 chiếc khăn vải hình tam giác màu đen, cạnh dài nhất là 124cm, cao 60cm có trị giá 217.000đ (hai trăm mười bảy nghìn đồng).
  • 01 chiếc khăn vải màu đen, có thêu hoa văn, kích thước (167x117)cm có trị giá 667.000₫ (sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
  • 01 chiếc khăn vải màu đen, có thêu hoa văn hình chữ nhật kích thước (125x42)cm có trị giá 383.000đ (ba trăm tám mươi ba nghìn đồng).
  • 01 túi gấm dài 46cm rộng nhất 6cm có trị giá 57.000đ (năm mươi bảy nghìn đồng).
  • 01 vòng gồm 03 chuỗi các hạt màu trắng, dạng hạt nhựa trong đó có 01 chuỗi bị đứt làm tuột rời các hạt có trị giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 104/CT-VKS ngày 15 tháng 11 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo Trần Đăng K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: bị cáo thừa nhận hành vi như nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố Trần Đăng K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo Trần Đăng K từ 06 tháng đến 09 tháng tù kể từ ngày bắt thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ.
  • Hình phạt bổ sung: Bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về trách nhiệm dân sự: không giải quyết.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mini thu giữ của Trần Đăng K; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tải màu trắng đã qua sử dụng bị rách và 01 thanh kim loại có vân xoắn trên bề mặt, chiều dài 44cm, đường kính 1,5cm.
  • Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: bị cáo K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi và quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Điều tra viên Công an huyện Ứ đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự và thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình thẩm tra tại phiên tòa bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 13/10/2023, tại miếu “Cụ H1” thuộc thôn M, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Trần Đăng K đã lén lút chiếm đoạt của thôn M 01 bức tượng, 03 hộp bánh, 01 vòng gồm 03 chuỗi hạt, 01 hòm gỗ bên trong hòm có 03 chiếc khăn, 01 túi gấm và tiền mặt 155.000₫ (một trăm năm mươi năm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản Khoa chiếm đoạt được là 5.037.000đ (năm triệu không trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

Hành vi trên của bị cáo Trần Đăng K đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo với tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đăng K đã thực hiện là nguy hiểm, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đến trật tự công cộng mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở nhiều địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật xong bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung cần có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Trịnh Thị T đã nhận lại các tài sản mà M “Cụ H1” bị mất. Đối với 01 ổ khóa cửa của miếu L ra do K dùng thanh kim loại cậy khóa để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bà Trịnh Thị T không yêu cầu K phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Một số vấn đề khác:

Đối với người đàn ông cho Trần Đăng K thanh kim loại: Theo lời khai của K thì khi K đi đến gần M “Cụ H1” gặp một người đàn ông không quen biết đứng ở ven đường 428 có đặc điểm khoảng 50 tuổi, ngoài ra các đặc điểm khác Khoa không nhớ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ không có cơ sở xác minh làm rõ.

Ngày 31/10/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 47 bằng hình thức trả lại các tài sản gồm: 01 bức tượng, 03 hộp bánh, 01 vòng gồm 03 chuỗi hạt, 01 hòm gỗ bên trong hòm 03 chiếc khăn, 01 túi gấm và tiền mặt 155.000 đồng cho bà Trịnh Thị T, sinh năm 1966 ở thôn M, xã Đ là Trưởng thôn Mỹ Cầu đồng thời là người đại diện cho thôn M, xã Đ, huyện Ứ là có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mini thu giữ của Trần Đăng K: Kết quả điều tra xác định chiếc xe mini trên là của ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1961 ở thôn N, xã N, huyện P, thành phố Hà Nội - là chú của K. Do không có nhu cầu sử dụng nên khoảng tháng 02 năm 2022, ông S đã cho Trần Đăng K; 01 chiếc tải màu trắng đã qua sử dụng bị rách; 01 thanh kim loại có vân xoắn trên bề mặt, chiều dài 44cm, đường kính 1,5cm đều là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước chiếc xe đạp; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tải và 01 thanh kim loại là phù hợp với Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

[ 8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46 và Điều 47 của BLHS;

Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Trần Đăng K 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 21/10/2023.
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
  5. Về vật chứng: Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mini màu xanh đen đã cũ. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tải màu trắng đã qua sử dụng bị rách và 01 thanh kim loại có vân xoắn trên bề mặt, chiều dài 44cm, đường kính 1,5cm. (Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 30/11/2023)
  6. Về án phí: Bị cáo Trần Đăng K phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hoà;
  • - Công an huyện Ứng Hòa;
  • - Chi cục THADS Ứng Hoà;
  • - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Bích Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 108/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Trần Đăng K 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/10/2023 đến ngày 21/10/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger