Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 108/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28-8-2023

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Hữu
  2. Bà Lê Thị Hồng Nhan

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 135/2023/TLST – HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, quyết định hoãn phiên toà số 66/2023/QĐST – HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1987 (xin vắng);
  • Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/5/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng T trình bày:

Chị và anh Phạm Văn Đ tự tìm hiểu, quen biết và tự nguyện tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ngày 06/01/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 4 năm 2023, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân là do anh Đ không lo làm ăn, thường xuyên ghen tuông vô cớ, dùng vũ lực đánh đập, đe dọa chị, dùng lời lẽ thô tục để xúc phạm danh dự của chị và gia đình chị. Chị đã nhiều lần cho anh Đ cơ hội để sửa sai nhưng anh không khắc phục, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn Đ.

Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Nguyễn Minh K, sinh ngày 27/01/2015 và Phạm Minh T1, sinh ngày 21/02/2021, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Phạm Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: về điều kiện kết hôn và quá trình chung sống như chị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 4/2023, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nhưng anh nhận thấy mâu thuẫn không lớn và có thể giải quyết được. Hiện anh còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Nguyễn Minh K, sinh ngày 27/01/2015 và Phạm Minh T1, sinh ngày 21/02/2021 hiện đang sống với chị T. Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T thì anh yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi 02 con.

Về tài sản chung và nợ chung: anh Đ trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm kiểm sát:

  • - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
  • - Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng T; về con chung: chị T được trực tiếp nuôi 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Minh K, sinh ngày 27/01/2015 và Phạm Minh T1, sinh ngày 21/02/2021, anh Phạm Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; Bị đơn anh Phạm Văn Đ có địa chỉ cư trú tại xã T, huyện M nên căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mộng T và anh Phạm Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T cho rằng, thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 4 năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh Đ không lo làm ăn, thường xuyên ghen tuông vô cớ, dùng vũ lực đánh đập, đe dọa chị, dùng lời lẽ thô tục để xúc phạm danh dự chị và gia đình chị. Chị đã nhiều lần cho anh Đ cơ hội để sửa sai nhưng anh không khắc phục, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Phía anh Đ thì cho rằng, mâu thuẫn vợ chồng không lớn, có thể hàn gắn được và hiện anh còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ hai, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự được biết để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng anh Đ vắng mặt không lý do. Thấy rằng, anh chị đã không còn mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc và đã để mâu thuẫn giữa vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Phạm Văn Đ là có căn cứ.

Về nuôi con chung: có 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Minh K, sinh ngày 27/01/2015 và Phạm Minh T1, sinh ngày 21/02/2021 hiện đang sống với chị T. Xét thấy, cháu Phạm Nguyễn Minh K có nguyện vọng sống chung với mẹ khi cha mẹ ly hôn, cháu Phạm Minh T1 hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Chị T cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của con chung, cần tiếp tục giao 02 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng như yêu cầu của chị là phù hợp. Ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và về nợ chung: chị T và anh Đ xác định giữa vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: chị Nguyễn Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng T.

    Chị Nguyễn Thị Mộng T được ly hôn với anh Phạm Văn Đ.

  2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Mộng T được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Minh K, sinh ngày 27/01/2015 và Phạm Minh T1, sinh ngày 21/02/2021, hiện 02 con chung đang sống với chị T, anh Phạm Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh Đ xác định giữa vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    Chị Nguyễn Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005190 ngày 29/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên không phải nộp thêm.

  5. Về quyền kháng cáo và thi hành án:

    Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bến Tre;

- VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;

- Chi Cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;

- Các đương sự;

- UBND xã Thành An, đăng ký kết hôn số 01, quyển số 01/2014, ngày 06/01/2014);

- Lưu HS, VP.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

 

 

Nguyễn Thị Hoài Nhớ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2023/HNGĐ-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 108/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Nguyễn Thị Mộng Thu - Phạm Văn Đạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger