|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 106/2024/HS-ST Ngày: 28-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Ngọc và ông Nguyễn Tấn Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXX - HS ngày tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị P, sinh ngày 02/01/1967 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: 103/16/15 N, tổ I, khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Bình; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: N (chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1931; Chồng: Phạm Văn T, sinh năm: 1966 có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 07/02/2024. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Quang T1, sinh năm 1987 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
Nơi cư trú: 06 L, TP., tỉnh Bình Định.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1989 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
Nơi cư trú: P5305 Chung cư E, phường N, TP ., Bình Định.
Chị Bùi Ngọc Uyên L, sinh năm 1998 “vắng mặt”.
Nơi cư trú: Tổ I, khu phố A, phường Q, TP ., tỉnh Bình Định.
Chị Huỳnh Thị Ái V, sinh năm 2001 “vắng mặt”.
Nơi cư trú: Tổ D, khu phố F, phường N, TP ., tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Kế hoạch công tác tuần thời gian từ ngày 30/01/2024 đến ngày 05/02/2024 của Đ, trật tự Công an T2 thì vào chiều ngày 01/02/2024 Tổ công tác tuần tra kiểm soát của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự - Công an thành phố T2 gồm 03 đồng chí Trần Kim V1 (Tổ trưởng), Trần Quang T1 và Nguyễn Quốc H thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên các tuyến đường thuộc địa bàn phường T, thành phố Q từ lúc 14 giờ 00 đến 18 giờ 00. Đến khoảng 16 giờ 15 phút ngày 01/02/2024, anh Trần Quang T1 điều khiển xe mô tô đặc chủng biển số 77A-000.23 chở anh Nguyễn Quốc H đi đến ngã tư P - N để tuần tra kiểm soát theo kế hoạch thì phát hiện Nguyễn Thị P đang điều khiển xe mô tô biển số 77L2 - 300.09 (nhãn hiệu: Honda - Airblade, màu đen) đi từ đường P qua đường N để đi vào đường P trong tình trạng không đội mũ bảo hiểm, vượt đèn đỏ tại ngã tư P - N. Tổ công tác chạy xe đến gần và ra hiệu lệnh cho P dừng xe. Tuy nhiên, P không chấp hành hiệu lệnh mà vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy lên vỉa hè trước nhà số B P, phường T, thành phố Q rồi dừng xe lại. Thấy vậy anh Trần Quang T1 điều khiển xe chở anh Nguyễn Quốc H đuổi theo đến vị trí P vừa dừng xe trên vỉa hè. Sau đó, anh H xuống xe, đi đến vị trí của P và thông báo lỗi vi phạm: “Không chấp hành tín hiệu đèn giao thông”, “Không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe tham gia giao thông”, yêu cầu P xuất trình giấy tờ xe. Lúc này, P không chấp hành theo yêu cầu của Tổ công tác mà lớn tiếng chửi lại: “Đây là nhà tui, tui không vi phạm gì hết”, “ Tui vi phạm gì mà bắt xe tui”. Sau đó, P tiếp tục có những lời lẽ chửi bới, xúc phạm Tổ công tác. Khi thấy P không chấp hành, anh T1 thông báo sẽ đưa xe vi phạm về đơn vị xử lý và tiến đến dắt xe mô tô 77L2-300.09 của P. Thấy vậy, P lớn tiếng chửi : “Mắc gì bắt xe tui”, “Tui vi phạm gì mà bắt xe tui, tụi bay ăn cướp hả” rồi P gạt tay anh T1 ra khỏi xe, dùng tay đánh trúng vào miệng của anh T1. Anh T1 tiếp tục giải thích với P, đồng thời tiến hành dắt xe mô tô 77L2- 300.09 về đơn vị để xử lý nhưng P tiếp tục chửi bới, gạt tay anh T1 ra khỏi xe mô tô và dùng tay đánh trúng vào miệng anh T1 một lần nữa. Nhận thấy P có hành vi chống người thi hành công vụ, anh T1 liền khống chế P, đồng thời yêu cầu anh H thông báo cho anh Trần Kim V1 là Tổ trưởng của tổ tuần tra biết về sự việc trên. Một lúc sau, anh V1 cùng các đồng chí Công an phường T đến hiện trường, phối hợp đưa P cùng phương tiện vi phạm về trụ sở Công an phường làm việc.
Hậu quả: Anh Trần Quang T1 bị một vết trầy xước tại da ở vị trí bờ môi trên, phía trong bên phải, chiều dài 0,3cm; không đi điều trị ở đâu, hiện đã hồi phục hẳn, không để lại dấu vết.
Vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an T2 đã thu giữ 01 đĩa DVD ghi lại diễn biến vụ việc Nguyễn Thị P có hành vi chống đối lực lượng CSGT vào ngày 01/02/2024, lưu vào hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Anh Trần Quang T1 không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Bản cáo trạng số 110/CT-VKSQN ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Thị P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.
Về bồi thường dân sự: Anh Trần Quang T1 bị thương tích nhẹ, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thực sự rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo đang chăm lo cho mẹ già, em bị bệnh down, cho bị cáo được ở ngoài để lo cho mẹ và em.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị P là người có đầy đủ sức khỏe, có đủ năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết chống lại người thi hành công vụ là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức xem thường pháp luật nên vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 01/02/2024, bị cáo Nguyễn Thị P điều khiển xe mô tô biển số 77L2 – 300.09 không đội mũ bảo hiểm đi từ đường P qua đường N để đi vào đường P, khi đến ngã tư P - N, bị cáo không tuân thủ đèn tín hiệu giao thông mà vượt đèn đỏ nên anh Trần Quang T1, anh Nguyễn Quốc H là cán bộ Tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an T2 yêu cầu bị cáo dừng xe nhưng bị cáo không chấp hành hiệu lệnh mà vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy lên vỉa hè trước nhà số B P, phường T, thành phố Q nên anh T1 điều khiển xe chở anh H đuổi theo và yêu cầu bị cáo xuất trình giấy tờ xe. Bị cáo không chấp hành mà có hành vi chửi bới, la hét, chống đối. Lúc này, anh T1 thông báo sẽ đưa xe vi phạm về đơn vị xử lý và tiến đến dắt xe mô tô 77L2-300.09 thì bị cáo tiếp tục chửi bới, chống đối, dùng tay đánh anh T1 nên Tổ tuần tra cùng các đồng chí Công an phường T đến hiện trường, phối hợp đưa bị cáo P về trụ sở Công an phường làm việc. Hành vi của bị cáo đã cản trở việc anh T1 thực hiện công vụ, do đó, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước về quản lý hành chính, cản trở hoạt động của người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trị an ở địa phương nên phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:
4.1. Bị cáo có nhân thân tốt.
4.2. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là phụ nữ đã lớn tuổi và là người trực tiếp chăm sóc cho mẹ già yếu và em bị khuyết tật nặng, xét thấy không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo tốt nên HĐXX áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử bị cáo hình phạt tù có điều kiện như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[5] Về bồi thường thiệt hại: Anh Trần Quang T1 bị thương tích nhẹ nhưng anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Chống người thi hành công vụ” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/5/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị P cho UBND phường T, TP ., tỉnh Bình Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Hồng Diễm |
Bản án số 106/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 106/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị P là người có đầy đủ sức khỏe, có đủ năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết chống lại người thi hành công vụ là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức xem thường pháp luật nên vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 01/02/2024, bị cáo Nguyễn Thị P điều khiển xe mô tô biển số 77L2 – 300.09 không đội mũ bảo hiểm đi từ đường P qua đường N để đi vào đường P, khi đến ngã tư P - N, bị cáo không tuân thủ đèn tín hiệu giao thông mà vượt đèn đỏ nên anh Trần Quang T1, anh Nguyễn Quốc H là cán bộ Tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an T2 yêu cầu bị cáo dừng xe nhưng bị cáo không chấp hành hiệu lệnh mà vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy lên vỉa hè trước nhà số B P, phường T, thành phố Q nên anh T1 điều khiển xe chở anh H đuổi theo và yêu cầu bị cáo xuất trình giấy tờ xe. Bị cáo không chấp hành mà có hành vi chửi bới, la hét, chống đối. Lúc này, anh T1 thông báo sẽ đưa xe vi phạm về đơn vị xử lý và tiến đến dắt xe mô tô 77L2-300.09 thì bị cáo tiếp tục chửi bới, chống đối, dùng tay đánh anh T1 nên Tổ tuần tra cùng các đồng chí Công an phường T đến hiện trường, phối hợp đưa bị cáo P về trụ sở Công an phường làm việc. Hành vi của bị cáo đã cản trở việc anh T1 thực hiện công vụ,
