Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Vũ Thị Đượm
  2. Bà Trần Thị Kim Tân

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. ĐỖ VĂN T, tên gọi khác: Cu L, sinh năm 1985, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn P, sinh năm 1952 và bà Trương Thị H, sinh năm 1952; vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay.
  2. NGÔ ĐÌNH C, sinh năm 2002, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Đình S, sinh năm 1970 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến: Anh Trần Hữu H2, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã X tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Đỗ Văn T. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện tại phòng ngủ số 01 có 02 đối tượng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là Đỗ Văn T và Ngô Đình C. Cơ quan Công an phát hiện thu giữ tại vị trí T và C đang ngồi sử dụng ma tuý 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (nỏ thuỷ tinh, chai nhựa, ống hút nhựa), 01 quẹt gas. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản và niêm phong tang vật theo quy định.

Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma tuý (mẫu nước tiểu) đối với Đỗ Văn T, Ngô Đình C đều cho kết quả dương tính đối với chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định: Đỗ Văn T và Ngô Đình C đều là người nghiện ma tuý, loại ma tuý tổng hợp (Methamphetamine). Vào khoảng 21 giờ ngày 03/01/2024, Ngô Đình C đi đến nhà Đỗ Văn T với mục đích rủ T mua ma túy đá về cho cả hai cùng sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T đưa cho C số tiền 200.000 đồng để C đi mua ma túy đá. Lúc này, C liên hệ với một người tên thường gọi “Tý Em” (không rõ nhân thân lai lịch) thông qua ứng dụng Messenger để hỏi mua ma túy. Khi liên lạc được với đối tượng bán ma túy, C một mình đi đến khu vực chợ X, thuộc xã X, huyện X gặp “Tý em” mua được 01 (một) gói ma túy đá với số tiền 200.00 đồng. Sau khi đi mua được ma túy đá, C cất giấu đem về nhà của T. Khi về đến nhà, T đã nói cho C biết dụng cụ sử dụng ma túy để sẵn tại vị trí trong góc cánh cửa phòng ngủ, C lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và đổ ma tuý đá vào bộ dụng cụ sử dụng, đốt lên cho cả hai cùng sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đang ngồi sử dụng ma tuý đá tại phòng ngủ của nhà T thì bị Công an xã X đến tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện tại vị trí T và C đang ngồi sử dụng ma túy có 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 ống thủy tinh và ống hút nhựa), Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị can Đỗ Văn T và Ngô Đình C, đồng thời niêm phong tang vật theo quy định.

Tại kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất màu trắng đục bám trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là Ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu đạng vết, không xác định được khối lượng.

H3 lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định. Không hoàn lại mẫu vật, mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định.

Vật chứng vụ án: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (nỏ thuỷ tinh, chai nhựa, ống hút nhựa). Tiến hành niêm phong 01 (một) nỏ thủy tinh có bám dính tinh thể màu trắng, ký hiệu (M1); 01 (một) quẹt gas; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xám gắn sim điện thoại số 0368.823.xxx thu giữ của Ngô Đình C.

Tại Bản cáo trạng số 92/CT-VKSXL ngày 09 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Đỗ Văn T và bị cáo Ngô Đình C về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trang truy tố Đỗ Văn T và bNgô Đình Chung về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có; Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 02 năm đến 03 năm tù; xử phạt bị cáo Ngô Đình C từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Văn T và Ngô Đình C đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 03/01/2024, tại nhà của Đỗ Văn T, thuộc ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Lực lượng Công an xã X đã tiến hành kiểm tra phát hiện Đỗ Văn T và Ngô Đình C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tại phòng ngủ số 01 của T. Công an thu giữ tại vị trí T và C đang ngồi sử dụng ma tuý 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (nỏ thuỷ tinh, chai nhựa, ống hút nhựa). Kết quả giám định: Tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methampetamine.

Do đó, hành vi của Đỗ Văn T và Ngô Đình C đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Các bị cáo biết được M là chất ma túy bị nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép, nhưng chỉ để thỏa mãn cơn nghiện các bị cáo đã có hành vi tổ chức cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó, cần cách ly hai bị cáo một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục răn đe hai bị cáo.

Đây là vụ án đồng phạm, T là người cung cấp số tiền 200.000 đồng đưa cho C để C đi mua ma túy về cùng sử dụng. Do đó, mức hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn T và bị cáo Ngô Đình C là ngang nhau.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 51/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút nhựa; 01 (một) quẹt gas; sim số 0368.823.573, không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xám cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6] Đối với người thanh niên tên “Tý em”, C khai là người đã bán ma túy cho C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để đưa ra hình thức xử lý là phù hợp.

[7] Nhận định của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

[8] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về căn cứ và hình phạt

Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T và Ngô Đình C phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Văn T 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

Xử phạt: bị cáo Ngô Đình C 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 51/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút nhựa; 01 (một) quẹt gas; sim số 0368.823.573, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2024.

Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xám, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2024)

3.Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đỗ Văn T và Ngô Đình C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn T và bị cáo Ngô Đình C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - CCTHADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger