TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 108 /2024/KDTM-ST Ngày: 27-8-2024 V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hoàng Thị Thanh Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Kim Hường
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh– Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2023/TLST-KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 656/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần C; Địa chỉ: A T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q và khai thác tài sản - Ngân hàng thương mại cổ phần C.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phí Thị H; sinh năm 1987 hoặc ông Nguyễn Võ Chí H1; sinh năm 1997; Cùng địa chỉ: G N, phường N, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền số 413/UQ-AMC ngày 22/06/2023).
- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q; Địa chỉ: E L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tuấn A; sinh năm: 1990; Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Tuấn A; sinh năm: 1990; Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La.
(Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C do ông Nguyễn Võ Chí H1 đại diện trình bày:
Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C (gọi tắt là nguyên đơn) và Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viêQ mua bán vải Tuấn A (gọi tắt là bị đơn) thỏa thuận ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 266/2021-HĐCVHM/NHCT946-TUANANH ngày 13/01/2022, có nội dung:
- Số tiền vay: 28.000.000.000 đồng.
- Mục đích cho vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh.
- Lãi suất cho vay theo từng Giấy nhận nợ kèm theo; Lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay; Lãi suất chậm trả lãi 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng thời gian chậm trả.
- Tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3 tọa lạc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022 (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 265/2021/HĐBĐ/NHCT946-TUANANH ngày 06/01/2022, công chứng số 847 ngày 06/01/2022 tại Phòng C1, TP Hồ Chí Minh, quyển số 01/2022TP/CC-SCC; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 13/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, TP HCM)
Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giải ngân số tiền vay cho bị đơn theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 13/01/2022, có nội dung: số tiền giải ngân 28.000.000.000 đồng, thời hạn trả nợ 09 tháng, lãi suất cho vay là lãi suất tiết kiệm VNĐ trả sau kỳ hạn 09 tháng + Biên độ 3.5%/năm, không thấp hơn lãi suất do Ngân hàng công bố trong từng thời kỳ. Lãi suất cho vay kỳ đầu tiên 7.7%/năm, ngày trả lãi đầu tiên 25/01/2022.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số 266/2021-HĐCVHM/NHCT946-TUANANH ngày 13/01/2022 kèm theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 13/01/2022. Yêu cầu thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải để cho các đương sự giải quyết tranh chấp trên, nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nên Toà án lập biên bản không tiến hành hoà giải được và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện nguyên đơn: Có bản trình bày yêu cầu khởi kiện kèm theo Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, có nội dung: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số 266/2021-HĐCVHM/NHCT946-TUANANH ngày 13/01/2022 kèm theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 13/01/2022 tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 35.472.935.064 đồng, trong đó: Nợ gốc là 27.840.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 166.602.903 đồng, lãi quá hạn 7.435.111.233 đồng, phạt chậm trả lãi 31.220.928 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 28/8/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên cho đến khi bị đơn thanh toán xong số tiền còn nợ.
Yêu cầu thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì đề nghị phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 265/2021/HĐBĐ/NHCT946-TUANANH ngày 06/01/2022, công chứng số 847 ngày 06/01/2022 tại Phòng C1, TP Hồ Chí Minh, quyển số 01/2022TP/CC-SCC; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 13/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, TP HCM để thu hồi nợ.
- Bị đơn : Vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo quy định tại Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, Từ Điều 239 đến Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa thể hiện: Nguyên đơn và bị đơn ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số 266/2021-HĐCVHM/NHCT946-TUANANH ngày 13/01/2022 kèm theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 13/01/2022 để vay số tiền gốc là 28.000.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3 tọa lạc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022 (theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 265/2021/HĐBĐ/NHCT946-TUANANH ngày 06/01/2022, công chứng số 847 ngày 06/01/2022 tại Phòng C1, TP Hồ Chí Minh, quyển số 01/2022TP/CC-SCC; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 13/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, TP HCM)
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 35.472.935.064 đồng, trong đó: Nợ gốc là 27.840.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 166.602.903 đồng, lãi quá hạn 7.435.111.233 đồng, phạt chậm trả lãi 31.220.928 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 28/8/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên cho đến khi bị đơn thanh toán xong số tiền còn nợ. Trong trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì đề nghị phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là phù hợp Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- Về quan hệ tranh chấp: Xét đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2023 và Hợp đồng cho vay hạn mức số 266/2021-HĐCVHM/NHCT946-TUANANH ngày 13/01/2022 thể hiện giữa các bên có thỏa thuận ký kết hợp đồng tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q cấp lần đầu ngày 07/6/2021, đăng ký thay đổi lần thứ 4 ngày 25/4/2023 thì bị đơn có trụ sở tại số E L, phường P, quận T. Do đó, khi có tranh chấp phát sinh thì nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn: Ngày 26/8/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình giải quyết, Toà án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 177, Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về yêu cầu của các đương sự
[2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và nợ lãi:
Xét, Hợp đồng cho vay hạn mức số 266/2021-HĐCVHM/NHCT946-TUANANH ngày 13/01/2022 kèm theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 13/01/2022 thể hiện sự thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385 và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày xét xử (ngày 27/8/2024) là 35.472.935.064 đồng, trong đó: Nợ gốc là 27.840.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 166.602.903 đồng, lãi quá hạn 7.435.111.233 đồng, phạt chậm trả lãi 31.220.928 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 28/8/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên cho đến khi bị đơn thanh toán xong số tiền còn nợ là phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp:
Xét, để đảm bảo khoản vay trên, thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Tuấn A đã thế chấp tài sản là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3 tọa lạc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 265/2021/HĐBĐ/NHCT946-TUANANH ngày 06/01/2022, công chứng số 847 ngày 06/01/2022 tại Phòng C1, TP Hồ Chí Minh, quyển số 01/2022TP/CC-SCC; đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 13/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, TP HCM.
Xét, tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2024 thì hiện trạng của tài sản bảo đảm có thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022, do đó, Tòa án đã ban hành Quyết định trưng cầu đo đạc số 394/2024/TC-DĐ ngày 08/5/2024 trưng cầu Công ty TNHH T thực hiện đo đạc hiện trạng theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 256/2024/HĐ-H.L.T ngày 28/5/2024, đã được Trung tâm kiểm định bản đồ và T1 kiểm tra nội nghiệp ngày 11/6/2024. Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí đo vẽ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi một lần cho nguyên đơn thì nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại toàn bộ các giấy tờ (bản chính) của tài sản trên cho ông A, gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022.
Trong trường hợp đến hạn thanh toán mà bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3 tọa lạc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022 kèm theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 256/2024/HĐ-H.L.T ngày 28/5/2024, đã được Trung tâm kiểm định bản đồ và T1 kiểm tra nội nghiệp ngày 11/6/2024 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 265/2021/HĐBĐ/NHCT946-TUANANH ngày 06/01/2022, công chứng số 847 ngày 06/01/2022 tại Phòng C1, TP Hồ Chí Minh, quyển số 01/2022TP/CC-SCC để thu hồi nợ là phù hợp Điều 320 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp chấp nhận. Do đó, ông Bùi Tuấn A có nghĩa vụ bàn giao tài sản bảo đảm để thi hành án.
[2.3] Về thời hạn thanh tóan: Xét, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh tóan đối với nguyên đơn đến nay đã lâu, đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, do vậy nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh tóan số tiền còn nợ một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Ngày 03/01/2024, nguyên đơn có Đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ đối với quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3 tọa lạc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng theo Phiếu thu ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án xem xét nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật.
Xét, ngày 06/5/2024 Tòa án đã thực hiện xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản trên với chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng. Do đó, bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
[4] Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn là 35.472.935.064 đồng, tương ứng số tiền án phí phải chịu là 143.472.935 đồng.
H2 lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 69.401.282 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006916 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 320, Điều 385, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền kháng cáo:
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần C số tiền còn nợ tính đến ngày 27/8/2024 là 35.472.935.064 đồng, trong đó: Nợ gốc là 27.840.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 166.602.903 đồng, lãi quá hạn 7.435.111.233 đồng, phạt chậm trả lãi 31.220.928 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 28/8/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 266/2021-HĐCVHM/NHCT946-TUANANH ngày 13/01/2022 kèm theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 13/01/2022 cho đến khi bị đơn thanh toán xong số tiền còn nợ.
Thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Địa điểm thi hành: Tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngay khi thanh tóan xong số nợ trên, Ngân hàng thương mại cổ phần C có trách nhiệm trả các giấy tờ (bản chính) của tài sản bảo đảm, bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022 cho chủ sở hữu.
Đến hạn thanh toán nợ mà Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q vải Tuấn A không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng thương mại cổ phần C có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 3 tọa lạc xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 630044, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 20059 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/07/2020, cập nhật biến động ngày 12/01/2022 kèm theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 256/2024/HĐ-H.L.T ngày 28/5/2024, đã được Trung tâm kiểm định bản đồ và T1 kiểm tra nội nghiệp ngày 11/6/2024 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 265/2021/HĐBĐ/NHCT946-TUANANH ngày 06/01/2022, công chứng số 847 ngày 06/01/2022 tại Phòng C1, TP Hồ Chí Minh, quyển số 01/2022TP/CC-SCC để thu hồi nợ. Ông Bùi Tuấn A có nghĩa vụ bàn giao tài sản bảo đảm nêu trên để thi hành án.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q chịu án phí sơ thẩm là 143.472.935 đồng.
H2 lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần C toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 69.401.282 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006916 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngân hàng thương mại cổ phần C, Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q vải Tuấn A, ông Bùi Tuấn A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Thị Thanh Mai |
Bản án số 108 /2024/KDTM-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 108 /2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
