Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 25-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Tươi

Bà Nguyễn Thị Hưởng

Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Tấn A, tên gọi khác: Bánh M, sinh năm 1993, tại Long An; Nơi cư trú: Số C T, khu phố N, phường E, Thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: vô danh và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Tại Bản án 118/2011/HSST ngày 28/12/2011, TAND huyện B, tỉnh Long An xử phạt Nguyễn Tấn A 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 06/6/2017 chấp hành xong bản án, đã xóa án tích.
    • - Bản án số 36/2013/HSST ngày 29/3/2013, TAND huyện B, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2016, nộp án phí ngày 21/10/2015, đã xoá án tích.
    • - Bản án số 29/2013/HSST ngày 03/5/2013, TAND huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác”, đã chấp hành xong án tù ngày 25/01/2016, được miễn án phí và thu lợi bất chính 21/6/2021, đã được xoá tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 17/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện B. (có mặt).

  2. Trần Hữu L1, tên gọi khác: không, sinh năm 1990, tại Long An; Nơi cư trú: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu S và bà Nguyễn Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: 01

    Bản án số 116/2021/HSPT ngày 20/12/2021, TAND tỉnh Long An xử phạt Trần Hữu L1 01 năm tù giam về tội “ Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác”, ngày 12/3/2022 chấp hành xong án phạt tù, chưa đóng án phí và bồi thường dân sự.

    Nhân thân:

    • - Bản án số 06/2014/HSST ngày 15/01/2014, TAND huyện B, tỉnh Long An xử phạt 8.000.000đ về tội “Đánh bạc”, được xoá án tích theo Bộ luật Hình sự hiện hành.
    • - Quyết định 363/QĐ-TA ngày 29/02/2016, TAND quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 28/12/2016.
    • - Quyết định số 16/2021/QĐ-TA ngày 26/01/2021, TAND Quận 8, TP Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị bắt tạm giam ngày 12/3/2021 trong vụ án “cố ý gây thương tích".

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/7/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện B (có mặt).

- Bị hại: Phạm Văn S1, sinh năm 1961; Xin vắng mặt.

Địa chỉ: Số A N, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Văn P, sinh năm 1983; Vắng mặt.
  2. Địa chỉ: Đường P, khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

  3. Nguyễn Duy K, sinh năm 1999; Vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

  5. Huỳnh Thị P1, sinh năm 1989; Vắng mặt.
  6. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/6/2024, Nguyễn Tấn A và Trần Hữu L1 là bạn bè ngoài xã hội ngồi uống nước thì rủ nhau đi đến khu vực xã T, huyện B, Long An tìm tài sản để trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Anh điều khiển xe môtô loại Wave màu trắng, biển số 62H9-0220 chở L1 đi, đến khoảng 16 giờ 15 phút khi đi trên đường L - Ấp D, xã T, huyện B chạy về hướng thị trấn B, khi đến gần Công ty TNHH H, Anh thấy xe môtô Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73 của anh Phạm Văn S1 đang đậu cặp sát lề đường, chìa khóa cắm trên ổ khóa, anh S1 đang quét đường, A chở L1 chạy qua xe mô tô biển số 62H9-0220 một đoạn quan sát xung quanh không có ai thì A điều khiển xe vòng lại thì dừng xe, Anh đưa xe mô tô biển số 62H9-0220 cho L1 điều khiển, còn Anh xuống xe đi bộ đến mô tô biển số 62N1- 462.73 rồi lên xe, mở khóa khởi động, điều khiển xe tẩu thoát về huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, còn L1 điều khiển xe mô tô biển số 62H9-0220 chạy về nhà của L1 ở Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Khi đến khu vực Quốc lộ A thuộc xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, Anh kiểm tra bên trong cốp xe có 01 giấy chứng nhận đăng ký của xe môtô biển số 62N1- 462.73 nên Anh gọi điện thoại cho M1 (không rõ nhân thân, lai lịch) nhờ bán xe loại Wave alpha mua lại của người khác, có giấy tờ hợp lệ, M1 đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, M1 dẫn Anh đến gặp Nguyễn Duy K đề bán xe môtô Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73 với giá 6.000.000đ, Anh nhận đủ tiền và giao xe cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho K. Anh cho M1 300.000đ rồi bắt xe ôm về đến ngã tư C thuộc Khu phố H, thị trấn B, huyện B gặp và nói với L1 là bán xe được 5.300.000đ, Anh chia cho L1 2.500.000đ, giữ lại 3.200.000đ, tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, K được người tên K1 (không rõ nhân thân) dẫn đến gặp anh Lê Văn P bán xe biển số 62N1- 462.73, K nói là xe mua lại có giấy tờ đầy đủ và bán được 9.000.000đ, K giữ lại 8.650.000₫ và cho K1 350.000đ. Đến ngày 12/6/2024, Công an xã T mời A và L1 làm việc thì khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của anh S1.

Trong quá trình điều tra, CQĐT tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng như sau:

  • - 01 xe môtô loại Wave màu trắng, được gắn biển số 62H9-0220, không có số khung, số máy, không giấy đăng ký, CQĐT tiếp tục tạm giữ xác minh xử lý theo quy định.
  • - 01 nón vải màu xám (có thêu dòng chữ GUCCI) bị can L1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • - 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73; 01 giấy chứng nhận đăng ký của xe biển số 62N1- 462.73 do anh P giao nộp, CQĐT đã trả lại cho chủ sở hữu là anh S1.
  • - Tiền Việt Nam 2.000.000đ do Huỳnh Thị P1 (bạn của A) tự nguyện nộp để trả lại cho bị hại.
  • - Đối với điện thoại bị cáo A sử dụng gọi cho anh K để bán xe, A đã bán cho người không rõ nhân thân được 1.500.000đ tiêu xài hết nên CQĐT không thu giữ được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B định giá và kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73 có giá trị là 7.250.000đ.

Tại Bản Cáo trạng số 104/CT-VKSBL ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn A mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Hữu L1 mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73; 01 giấy chứng nhận đăng ký của xe biển số 62N1- 462.73 do anh P giao nộp, CQĐT đã trả lại cho chủ sở hữu là anh S1 là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
    • - 01 xe môtô loại Wave màu trắng, được gắn biển số 62H9-0220, không có số khung, số máy, không giấy đăng ký nên đề nghị giao CQĐT tiếp tục tạm giữ xác minh xử lý theo quy định.
    • - 01 nón vải màu xám (có thêu dòng chữ GUCCI) bị cáo L1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
    • - Tiền Việt Nam 2.000.000đ của bị cáo L1 nhờ Huỳnh Thị P1 (bạn của bị cáo A) tự nguyện nộp để trả lại cho bị hại nên đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Đối với điện thoại bị cáo A sử dụng gọi cho anh K để bán xe, bị cáo A đã bán cho người không rõ nhân thân được 1.500.000đ tiêu xài hết nên CQĐT không thu giữ được nên đề nghị buộc bị cáo Anh nộp 1.500.000đồng sung Ngân sách Nhà nước.
  • Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn S1 đã nhận lại xe và giấy chứng nhận đăng ký xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha màu trắng đen bạc biển số 62N1- 462.73 nên không yêu cầu gì thêm; Anh Nguyễn Duy K yêu cầu các bị cáo bồi thường 2.000.000đ, anh Lê Văn P yêu cầu các bị cáo bồi thường 4.000.000đ bị thiệt hại khi mua xe. Trước tòa các bị cáo A và L1 đồng ý bồi thường nên đề nghị buộc các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Duy K 2.000.000đ và anh Lê Văn P 4.000.000₫.
  • Đối với Nguyễn Duy K, Lê Văn P, M1, K1 mua xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73 nhưng không biết rõ tài sản có nguồn gốc do người khác phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
  • Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản xác định hiện trường, Sơ đồ xác định hiện trường, Bản ảnh hiện trường; phù hợp với bản kết luận về định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG, ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Long An và phù hợp với nội dung Bản cáo trạng: Thấy rằng, các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 là những người có tuổi đời còn trẻ, có đủ sức khỏe để học tập và lao động kiếm tiền nuôi sống bản thân, nhưng các bị cáo lại lười lao động, chỉ vì mục đích cá nhân muốn có tiền tiêu xài không phải bỏ công sức nên các bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân cụ thể:

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 10/6/2024, bị cáo Nguyễn Tấn A điều khiển xe Wave màu trắng, biển số 62H9-0220 chở bị cáo Trần Hữu L1 trên đường L - Ấp D thuộc xã T, huyện B khi gần Công ty TNHH H thì bị cáo A thấy xe môtô Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 46273 của anh Phạm Văn S1 đang đậu cặp sát lề đường, chìa khóa cắm trên ổ khóa, không người trông coi, các bị cáo A và L1 lén lút lấy trộm xe Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73 có giá trị 7.250.000₫ của anh S1, sau đó các bị cáo A và L1 bán lại cho Nguyễn Duy K được 6.000.000đ, cả hai chia tiền tiêu xài cá nhân hết.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn không có phân công vai trò mà cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội cho đến khi bị bắt. Các bị cáo đã từng bị kết án về hành vi “trộm cắp tài sản” nhưng không ăn năn hối cải tu tâm làm lại cuộc đời mà lại tiếp tục phạm tội hành vi tương tự nên hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho các bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Hữu L1 có 01 tiền án chưa xoá án tích mà tiếp tục phạm tội đây là tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù và mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Tuy nhiên, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73; 01 giấy chứng nhận đăng ký của xe biển số 62N1- 462.73 do anh P giao nộp, CQĐT đã trả lại cho chủ sở hữu anh S1 là phù hợp nên không đề cập xem xét.
  • - 01 xe môtô loại Wave màu trắng, được gắn biển số 62H9-0220, không có số khung, số máy, không giấy đăng ký nên giao CQĐT tiếp tục tạm giữ xác minh xử lý theo quy định.
  • - 01 nón vải màu xám (có thêu dòng chữ GUCCI) bị cáo L1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • - T 2.000.000₫ do Huỳnh Thị P1 (bạn của bị cáo A) tự nguyện nộp để trả lại cho bị hại nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Đối với điện thoại bị cáo A sử dụng gọi cho anh K để bán xe, bị cáo A đã bán cho người không rõ nhân thân được 1.500.000đ tiêu xài hết, CQĐT không thu giữ được nên buộc bị cáo A nộp 1.500.000₫ sung Ngân sách Nhà nước.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Văn S1 đã nhận lại xe và giấy chứng nhận đăng ký xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha màu trắng đen bạc biển số 62N1- 462.73 nên không yêu cầu gì thêm; Anh Nguyễn Duy K yêu cầu các bị cáo bồi thường 2.000.000đ, anh Lê Văn P yêu cầu các bị cáo bồi thường 4.000.000đ bị thiệt hại khi mua xe. Trước tòa các bị cáo A và L1 đồng ý bồi thường nên buộc các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Duy K 2.000.000đ và anh Lê Văn P 4.000.000đ có khấu trừ số tiền 2.000.000đồng chị P1 đã nộp để đảm bảo thi hành án.

[10]. Đối với Nguyễn Duy K, Lê Văn P, M1, K1 mua xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha màu trắng đen bạc, biển số 62N1- 462.73 nhưng không biết rõ tài sản có nguồn gốc do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp nên không đề cập xem xét.

[11]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 12/6/2024.

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Trần Hữu L1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 05/7/2024.

  2. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 45 ngày kể từ ngày tuyên án (25/10/2024) để đảm bảo thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Giao CQĐT Công an huyện B tiếp tục tạm giữ xác minh xử lý theo quy định 01 xe môtô loại Wave màu trắng, được gắn biển số 62H9-0220, không có số khung, số máy, không giấy đăng ký.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 nón vải màu xám, có thêu dòng chữ GUCCI (Hiện vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 10 năm 2024).
  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 587, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Duy K 2.000.000đ và anh Lê Văn P 4.000.000đ có khấu trừ số tiền 2.000.000đồng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 10 năm 2024. Chi cục Thi hành án dân sự huyện B có trách nhiệm thi hành cho anh K và anh P.

    Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  6. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L1 có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

    “Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án."

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện B;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bến Lức; B
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện B;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Kim Thảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn A, Trần Hữu L phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger