Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 25/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan

2. Bà Nguyễn Thị Bích Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hà Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ X - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn T - Sinh ngày 17 tháng 5 năm 1982 tại Hà Nội. Nơi đăng ký HKTT: Thôn K, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Vũ Văn T1 và bà Nguyễn Thị M; Chưa có vợ con.

- Tiền án:

+ Tại Bản án số 172/HSST ngày 19/6/2003, bị Toà án nhân dân Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tại quyết định số 376/HSPT ngày 17/9/2003 Toà án nhân dân thành phố Hà Hội Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (Bị cáo rút toàn bộ kháng cáo).

+ Tại Bản án số 276/HSST ngày 09/12/2003, bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tại bản án số 849/HSPT ngày 01/6/2004 của Toà Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 276/HSST ngày 09/12/2003 Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây.

+ Tại Bản án số 61/HSST ngày 14/5/2004 Toà án nhân dân Quận Cầu Giấy xử phạt T 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp 09 tháng tù của Bản án số 172 ngày 19/6/2003 của Toà án nhân dân Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 39 tháng tù (Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/9/2008).

+ Tại Bản án số 405/2010/HSST ngày 30/9/2010 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Vũ Văn T 14 năm tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. (Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/6/2023).

- Nhân thân: Ngày 03/01/2000 Công an quận B, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)

* Bị hại: Anh Ngô Trung H, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Trú tại: Xóm L, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Người được anh H ủy quyền: Anh Ngô Thanh T2, sinh năm 2002. (Vắng mặt)

Trú tại: Xóm L, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Ngô Thanh T2, sinh năm 2002. (Vắng mặt)
    Trú tại: Xóm L, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Anh Vũ Đình H1, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
    HKTT: Thôn Khả Liễu, xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội.
    Chỗ ở: Tổ 1, phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Duy H2, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
    Trú tại: Xóm G, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Anh Lê Duy L, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
    Trú tại: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Anh Nguyễn Đức V, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
    Trú tại: Tổ B A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Ông Nguyễn Quang H3, sinh năm 1960 (Có mặt)
    Trú tại: Tổ B, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
  5. Anh Hoàng Quang H4, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
    Trú tại: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/8/2023, Vũ Văn T đi bộ một mình từ nhà trọ của anh Vũ Đình H1 (sinh năm: 1995, HKTT: Thôn K, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội) tại tổ A, phường T, thành phố T đến khu vực sân bóng mini gần Trường Đại học K thuộc tổ B, phường T, thành phố T để xem đá bóng. Trên đường đi, T nhặt được 01 vé gửi xe mô tô, có ghi mã số: 340 của Trường Đại học K ở bên ngoài khu vực cổng trường. Lúc này, T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trong bãi gửi xe của trường Đại học K. T đi vào khu vực gửi xe tìm kiếm và chọn chiếc xe nhãn hiệu Honda SH125i, BKS: 20L-003.69, màu sơn: Đỏ, số khung 154859; số máy: JF95 01698 của anh Ngô Trung H, sinh năm 1994, trú tại xóm L, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để trộm cắp. T dùng ống tay áo lau số vé xe thật ghi trên yên xe đi rồi dùng phấn viết số 340 theo vé xe mà T nhặt được. Sau đó T dắt chiếc xe trên đi ra cổng, lợi dụng thời điểm có nhiều người ra vào để trà trộn đưa vé cho nhân viên bảo vệ, để mang được xe ra khỏi bãi giữ xe và dắt xe về phòng trọ của anh H1.

T lên mạng internet tìm kiếm và liên hệ với anh Hoàng Quang H4 (sinh năm 1992, HKTT: Xóm T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) là thợ sửa khóa đến để mở khóa chiếc xe mô tô mà T trộm cắp được. Khoảng 16 giờ cùng ngày, anh H4 đến sửa khóa xe cho T và được T trả số tiền 1.200.000 đồng. T mở cốp xe ra thì phát hiện bên trong có 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Ngô Trung H; 01 (Một) Giấy phép lái xe, hạng A1, mang tên Ngô Thanh T2; 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe gắn máy.

Khi anh H1 về phòng trọ có hỏi T về nguồn gốc chiếc xe trên thì T trả lời đó là xe bạn của T nhờ mua hộ. Khoảng 15 giờ ngày 30/8/2023, T mang chiếc xe mô tô trên rời đi. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, anh H1 điện thoại cho T nói rằng "Có người đăng bài lên mạng báo mất trộm chiếc xe trên, anh có liên quan gì thì mang xe trả lại cho người ta đi". Qua thông tin trên bài viết, T liên hệ với anh Ngô Trung H. T cho anh H biết chiếc xe của anh H bị mất đang để ở siêu thị L1 và bảo anh H ra Cơ quan Công an xin rút đơn và đăng bài viết trên trang mạng Facebook là đã tìm được xe mô tô, đồng thời chuyển cho T số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) là tiền T đã sửa khoá xe. Anh H đồng ý và chuyển 2.000.000₫ đến số khoản 9433668888 mang tên HOANG DINH TIEN tại Ngân hàng T4. Sau đó, anh H đã đến lấy chiếc xe và giao nộp cho Cơ quan Công an.

Tại bản kết luận số 248/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH125I, màu sơn đỏ, số máy JF95E0169879, số khung RLHJF9509NY154859, đã qua sử dụng có giá trị là 60.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn T đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình, phù hợp với đơn trình báo; Biên bản làm việc; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Lời khai của người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH125I, BKS 20L1-003.69, màu sơn đỏ, số khung: RLHJF9509NY154859; số máy: JF95E 0169879, xe lắp gương bên trái phần nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng. 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Ngô Trung H. 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của anh Ngô Trung H cho em trai Ngô Thanh T2 mượn. Hiện đã thu hồi và trả lại cho anh H quản lý, sử dụng.
  • - 01 Giấy phép lái xe, hạng A1, mang tên Ngô Thanh T2; Hiện đã thu hồi và trả lại cho anh T2 quản lý, sử dụng.

Phần dân sự: Bị cáo Vũ Văn T đã tự nguyện trả cho anh H số tiền 2.000.000 đồng. Anh H không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKSTPTN, ngày 29/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 42 tháng đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Vật chứng vụ án: Đã giải quyết xong.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội trong lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày hôm nay vắng mặt bị hại, người được bị hại ủy quyền anh T2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh T2, anh H1 và 04 người làm chứng. Xét thấy anh T2, anh H1, anh L, anh H4 có đơn xin xét xử vắng mặt. Những người này đã được cơ quan điều tra lấy lời khai, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa.

[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/8/2023, tại bãi gửi xe của Trường Đại học K thuộc tổ B, phường T, thành phố T, Vũ Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH125I, BKS 20L1-003.69 của anh Ngô Trung H. Giá trị tài sản bị trộm cắp là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a)...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

g) Tái phạm nguy hiểm”.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, có 04 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, khi biết bị hại tìm xe, bị cáo đã liên lạc và trả lại xe cho bị hại. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh T2, anh H1 không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Vật chứng vụ án:

  • - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH125I, BKS 20L1-003.69, màu sơn đỏ, số khung: RLHJF9509NY154859; số máy: JF95E 0169879; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Ngô Trung H; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy; 01 Giấy phép lái xe, hạng A1, mang tên Ngô Thanh T2, cơ quan điều tra đã trả cho anh H, anh T2 quản lý, sử dụng là phù hợp.

[7]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8]. Anh Hoàng Quang H4 là người sửa khoá xe mô tô do T trộm cắp được; Anh Vũ Đình H1 cho T để chiếc xe trộm cắp được tại phòng trọ của mình, xét thấy anh H4, anh H1 đều không biết chiếc xe mô tô trên là do T trộm cắp mà có, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý là có căn cứ.

Đối hành vi của T đề nghị anh H chuyển số tiền 2.000.000 đồng để lấy xe. Quá trình điều tra xác định T không có hành vi ép buộc, đe dọa, anh H chuyển tiền là hoàn toàn tự nguyện nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý là có căn cứ.

Đối với anh Hoàng Đình T3 là người cho T mượn số tài khoản để H chuyển tiền cho T. Quá trình điều tra anh T3 không biết T không biết nội dung giao dịch với anh H do vậy không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt:

  • - Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2023.
  • - Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh T2, anh H1) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN; Sở tư pháp;
  • - VKSND tỉnh TN; VKSND TPTN;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh TN;
  • - Công an TPTN;
  • - Chi cục THADS TPTN;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger