Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-PT

Ngày: 24/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam

Bà Nguyễn Thị Thu Từ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 53/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T, do có kháng cáo của các bị Trần Văn HNguyễn Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Họ và tên: Trần Văn H; tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/12/1989 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969; vợ: Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 1991; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không, nhân thân: Ngày 20/01/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (chấp hành xong ngày 21/10/2011); ngày 01/4/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 03 tháng tù, phạt tiền 3.000.000đ về tội Đánh bạc (Chấp hành xong ngày 03/5/2016); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 02/10/2023 được tại ngoại, Vắng mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Thị T; tên gọi khác: Không, sinh ngày 28/01/1977 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1945; chồng: Trần Văn S, sinh năm 1973; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2023 đến ngày 16/10/2023 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 08/9/2023, từ nguồn tin báo của quần chúng nhân dân về đối tượng có dấu hiệu thực hiện tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Q đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Nguyễn Thị H3Hồ Thị P. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Thị H3 01 điện thoại VIVO gắn thẻ sim số 0796.746.530 và 01 điện thoại Iphone 12 gắn thẻ sim số 0985.330.215; thu giữ của Hồ Thị P 01 điện thoại Good gắn thẻ sim số 0325.706.354 và 01 điện Samsung Galaxy A12 gắn thẻ sim số 0397.872.199. Qua kiểm tra, Cơ quan điều tra đã phát hiện các dữ liệu lưu trữ trong các máy điện thoại thu giữ của các bị cáo có chứa các tin nhắn có nội dung đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô số đề giữa Nguyễn Thị H3, Hồ Thị P với các bị cáo Hồ Minh T1, Nguyễn Thị P1, Nguyễn Xuân T2, Trần Văn HNguyễn Thị T. Từ các tài liệu, đồ vật đã thu giữ được, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Q đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị H3Hồ Thị P.

Trong ngày 08/9/2023 và 09/9/2023, sau khi biết được Nguyễn Thị H3Hồ Thị P bị Công an bắt giữ thì Hồ Minh T1, Nguyễn Thị P1, Nguyễn Thị TNguyễn Xuân T2 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đầu thú về hành vi đánh bạc của mình, đồng thời giao nộp các đồ vật có liên quan đến vụ án.

Trong quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, ngoài việc khai nhận hành vi đánh bạc của mình với Hồ Thị P vào ngày 08/9/2023 thì Nguyễn Thị T còn khai nhận trong điện thoại mà Cơ quan điều tra đã thu giữ còn lưu giữ hình ảnh các số lô, số đề mà T đã đánh bạc với Văn Đình T3 vào ngày 07/9/2023.

Ngày 10/9/2023, sau khi biết Nguyễn Thị T bị bắt thì Văn Đình T3 đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện Q đầu thú về hành vi Đánh bạc của mình với T vào ngày 07/9/2023. Cũng trong ngày 10/9/2023, khi biết được Văn Đình T3 đến Cơ quan Công an để đầu thú thì Hồ Hậu T4 cũng đã đến Công an huyện Q đầu thú về hành vi đánh bạc với Văn Đình T3 vào ngày 07/9/2023. Ngày 29/9/2023, khi biết được Nguyễn Thị H3 bị bắt giữ thì Trần Văn H đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện Q để đầu thú về hành vi Đánh bạc của mình với Nguyễn Thị H3 vào ngày 08/9/2023.

Để thực hiện hành vi phạm tội của mình, các bị cáo lợi dụng cơ cấu giải thưởng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào lúc 18 giờ 30 phút hàng ngày, có tất cả 27 giải thưởng, gồm: (01 giải đặc biệt; 01 giải nhất; 02 giải nhì; 06 giải ba; 04 giải tư; 06 giải năm; 03 giải sáu; 04 giải bảy) để cá cược đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh số Đề, số lô xiên, số đề Đầu, số đề Đ, số đề Kép hoặc đánh số Lô trái phép, cụ thể như sau: Đánh số lô: Là cách đánh theo hai chữ số sau cùng của cả 27 giải thưởng, được tính bằng điểm, mỗi điểm lô được tính theo quy ước là 21.800đ đến 23.000₫ do các bị cáo tự thỏa thuận với mức giá khác nhau, nếu trúng thì nhận 80.000đ cho mỗi điểm. Cụ thể: Nguyễn Thị H3 nhận số lô từ Hồ Minh T1, Nguyễn Thị P1 với giá 22.000đ/01 điểm lô sau đó chuyển cho Trần Văn H với giá 21.800đ/1 điểm lô; Văn Đình T3 nhận số lô từ Nguyễn Thị T với giá 23.000đ/1 điểm lô sau đó chuyển cho Hồ Hậu T4 với giá 22.000đ/1 điểm lô. Khi có kết quả xổ số kiến thiết miền bắc thì các bị cáo so sánh, nếu trong 27 dãy số của 07 giải có dãy số nào có hai số cuối trùng với số người đánh đã chọn và cá cược thì gọi là thắng (trùng một số thì nhân 1; 2 số thì nhân 2...), nếu không trúng là thua và mất số tiền đã đánh. Đánh số đề: Là cách đánh theo hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt, người đánh Đ1 sử dụng số có hai chữ số để đánh, nếu đánh trúng hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt của sổ số kiến thiết Miền B thì được xem là trúng đề và được hưởng gấp 90 lần số tiền bỏ ra ban đầu để đánh số đề đó. Đánh lô xiên: Là chọn 02 hoặc 03 hoặc 04 cặp số của tất cả 27 giải thưởng kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng trong ngày. Nếu thắng thì tỷ lệ cá cược đối với lô xiên 2 là 01 ăn 10 lần; lô xiên 3 là 01 ăn 40 lần; lô xiên 4 là 1 ăn 80 lần. Tức là đánh số lô xiên với số tiền 1.000đ, nếu thắng thì lô xiên 2 thắng được số tiền 10.000đ; lô xiên 3 thắng được số tiền 40.000đ; lô xiên 4 thắng được số tiền là 80.000đ. Đánh số đề đầu: Là một hình thức của đánh Đ1, người chơi chọn đầu có nghĩa là sẽ đánh 10 số Đề cùng chung một số đầu trong 2 số cuối của giải đặc biệt, nếu trùng một trong các số đó nghĩa là trúng và được nhận số tiền gấp 90 lần số tiền đã đánh đối với mỗi số. Đánh số đề đuôi: Là một hình thức của đánh Đ1, người chơi chọn đuôi có nghĩa là sẽ đánh 10 số Đề cùng chung một số đuôi là số cuối của giải đặc biệt, nếu trùng một trong các số đó nghĩa là trúng và chỉ được nhận số tiền gấp 90 lần số tiền đã đánh đối với mỗi số.

Với cách thức và hình thức đánh bạc quy ước như trên, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội của mình như sau:

Hành vi đánh bạc vào ngày 7/9/2023.

Đối với hành vi đánh bạc giữa bị cáo Nguyễn Thị T với Văn Đình T3, giữa Văn Đình T3Hồ Hậu T4:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/9/2023, Nguyễn Thị T sử dụng tài khoản mạng xã hội Z mang tên “Thanh Long” đăng ký bằng số điện thoại “0379.566.xxx” nhắn tin đến tài khoản Zalo mang tên “Văn Trường” được đăng ký bằng số điện thoại “0983.210.xxx” của Văn Đình Trường 01 hình ảnh chụp các số lô được T ghi trên một tờ hóa đơn bán lẻ có chữ màu đỏ để mua của T3 với tổng là 1350 điểm lô, tương ứng với số tiền 31.050.000đ (chi tiết các số lô, số đề được thể hiện tại biên bản làm việc ngày 10/9/2023). Sau khi nhận được các số lô mà T đã mua của mình thì T3 đã sử dụng số thuê bao “0983.210.014” gọi điện đến số thuê bao “0974.738.026” của Hồ Hậu T4 để chuyển toàn bộ số lô mà T đánh cho T4 để hưởng tiền chênh lệch (T3 lấy của T 23.000đ/01 điểm lô còn chuyển cho T4 22.000đ/01 điểm lô). Sau khi T3 đọc các số lô thì T4 đã ghi nháp ra tin nhắn điện thoại để tiện tính toán tiền thắng thua. Căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 07/9/2023 thì các số lô Thu mua của T3 sau đó T3 chuyển cho T4 đã trúng thưởng 400 điểm lô tương ứng với số tiền 32.000.000₫.

Như vậy, tổng số tiền mà Nguyễn Thị TVăn Đình T3 sử dụng vào việc đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự trong ngày 07/9/2023 là 63.050.000đ. Số tiền mà Hồ Hậu T4 sử dụng vào việc đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự trong ngày 07/9/2023 là 61.700.000đ.

Hành vi đánh bạc vào ngày 8/9/2023:

- Đối với hành vi đánh bạc giữa bị cáo Nguyễn Thị H3 với bị cáo Hồ Minh T1, Nguyễn Thị P1, Nguyễn Xuân T2, Trần Văn HHồ Thị P: Từ khoảng 16 giờ đến trước 18 giờ 00 ngày 08/9/2023, Nguyễn Xuân T2, Hồ Minh T1Nguyễn Thị P1 đã gọi điện cho Nguyễn Thị H3 để mua các số lô, số đề, cụ thể như sau:

Nguyễn Xuân T2 sử dụng số thuê bao “0974.509.999” gọi đến số thuê bao “0985.330.215” của Nguyễn Thị H3 để mua tất cả 35 số đề với tổng số tiền là 100.000.000đ (chi tiết các số đề mà T2 mua của H3 được thể hiện tại Biên bản làm việc vào ngày 09/9/2023). Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc vào ngày 08/9/2023 thì T2 không trúng thưởng. Tổng số tiền mà H3 và T2 sử dụng để đánh bạc vào ngày 08/9/2023 là 100.000.000đ.

Hồ Minh T1 sử dụng số thuê bao “0376.823.040” gọi điện đến số thuê bao “0985.330.215” của Nguyễn Thị H3 để mua tất cả 51 số đề và 05 số lô với tổng số tiền 97.000.000đ (chi tiết các số lô, đề mà T1 mua của H3 được thể hiện tại Biên bản làm việc vào ngày 09/9/2023). Căn cứ vào kết quả xổ số miền bắc vào ngày 08/9/2023 thì T1 trúng thưởng số đề “76” với số tiền 45.000.000đ và 500 điểm lô tương ứng với số tiền 40.000.000đ. Tổng số tiền mà H3 và T1 sử dụng để đánh bạc vào ngày 08/9/2023 là 182.000.000đ.

Nguyễn Thị P1 sử dụng số thuê bao “0985.282.688” gọi điện đến số thuê bao “0985.330.215” của Nguyễn Thị H3 để mua tất cả 47 số đề; 06 số lô; 01 cặp số lô xiên với tổng số tiền là 30.500.000đ (chi tiết các số lô, đề, lô xiên mà P1 mua của H3 được thể hiện tại Biên bản làm việc vào ngày 09/9/2023). Căn cứ vào kết quả xổ số miền bắc vào ngày 08/9/2023 thì P1 trúng thưởng số đề “76” với số tiền 27.000.000đ và 50 điểm lô tương ứng với số tiền 4.000.000đ. Tổng số tiền mà P1 và H3 sử dụng để đánh bạc vào ngày 08/9/2023 là 61.500.000đ.

Sau khi nhận các số lô, số đề từ Nguyễn Xuân T2, Hồ Minh T1Nguyễn Thị P1 thì Nguyễn Thị H3 đã sử dụng số điện thoại “0976.746.xxx” để nhắn tin nhắn chuyển toàn bộ các sô lô số đề đã nhận (gồm 111 số đề tương ứng với số tiền là 191.750.000đ và 1600 điểm lô tương ứng với số tiền 34.880.000đ đến số thuê bao “0896.033.974” để đánh và tính toán việc thắng thua với Trần Văn H, đồng thời H3 tự đánh thêm với H 08 số đề với số tiền 450.000đ. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc ngày 08/9/2023 thì H3 đã trúng thưởng tất cả 72.000.000đ tiền đề và 550 điểm lô tương ứng với số tiền 44.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền H sử dụng để đánh bạc với H3 là 342.630.000đ. Ngoài ra, đối với số lô xiên 2: 66-90 với số tiền đánh là 1.000.000đ thì H3 chuyển cho Hồ Thị P để tính toán việc thắng thua.

Đối với hành vi đánh bạc giữa các bị cáo Hồ Thị P với Hồ Minh T1, Nguyễn Thị P1, Nguyễn Thị TNguyễn Thị H3: Từ khoảng 16 giờ đến trước 18 giờ 00 ngày 08/9/2023, Hồ Thị P đã nhận các cuộc gọi điện thoại từ Nguyễn Thị P1, Hồ Minh T1, Nguyễn Thị TNguyễn Thị H3 để mua các số lô, số đề cụ thể như sau:

Nguyễn Thị P1 sử dụng số thuê bao “0985.282.688” gọi điện đến số thuê bao“ 0397.872.199” của Hồ Thị P để mua tất cả 34 số đề với tổng số tiền 31.500.000đ (chi tiết các số đề mà Nguyễn Thị P1 mua của Hồ Thị P được thể hiện tại Biên bản làm việc vào ngày 09/9/2023). Sau khi nhận các số đề từ Nguyễn Thị P1 thì Hồ Thị P soạn ra tin nhắn nháp để tính toán thắng thua. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc vào ngày 08/9/2023 thì Nguyễn Thị P1 không trúng thưởng.

Hồ Minh T1 sử dụng số thuê bao “0376.823.040” gọi điện đến số thuê bao “0325.706.354” của Hồ Thị P để mua 46 số đề, 04 số lô xiên với tổng số tiền là 177.000.000đ (chi tiết các số lô, số đề mà T1 mua của P được thể hiện tại Biên bản làm việc vào ngày 09/9/2023). Sau khi nhận các số đề từ T1 thì P soạn ra tin nhắn nháp để tính toán thắng thua. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc vào ngày 08/9/2023, Hồ Minh T1 không trúng thưởng.

Nguyễn Thị T sử dụng số thuê bao “0379.566.715” và “0347.633.189” gọi điện đến số thuê bao “0325.706.354” của Hồ Thị P để mua 77 số đề với tổng số tiền là 22.400.000đ (chi tiết các số đề mà Thu mua của P được cụ thể hóa tại Biên bản làm việc vào ngày 09/9/2023). Sau khi nhận các số đề từ T thì P soạn ra tin nhắn nháp để tính toán thắng thua. Căn cứ vào kết quả xổ số miền bắc vào ngày 08/9/2023, T trúng thưởng số đề “76” tương ứng với số tiền là 18.000.000đ. Như vậy, số tiền T đánh bạc với Hồ Thị P là 40.400.000đ.

Nguyễn Thị H3 sử dụng số thuê bao “0985.330.215” gọi điện thoại đến số thuê bao “0397.872.199” của Hồ Thị P để mua số lô xiên 2: 66-90 với số tiền 1.000.000đ. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc vào ngày 08/9/2023 thì Nguyễn Thị H3 không trúng thưởng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 26/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An quyết định:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Trần Văn H.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thị T.

Xử phạt:

  • Bị cáo Trần Văn H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”; thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam (từ ngày 29/9/2023 đến ngày 02/10/2023).
  • Bị cáo Nguyễn Thị T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”; thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 11/9/2023 đến ngày 15/9/2023).

Ngoài ra bản án còn tuyên hình phạt cho các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, bị cáo Trần Văn H làm đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị T làm đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị Thu giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Về sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn H vắng mặt, xét thấy, bị cáo đã nhiều lần làm đơn xin hoãn phiên tòa với lý do đang điều trị Trung tâm ý tế thị xã T, tỉnh Ninh Bình. Xét thấy, sự vắng mặt của bị cáo không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[2] Về nội dung:

Từ ngày 07/9/2023 và ngày 08/9/2023, tại nhà ở của mình thuộc các xã Q, Q, Q của huyện Q, tỉnh Nghệ An, căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng vào lúc 18h30 hằng ngày, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị H3, Hồ Minh T1, Hồ Thị P, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị P1, Văn Đình T3Hồ Hậu T5 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với nhau bằng hình thức mua bán số lô, số đề với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự của từng người cụ thể: Vào ngày 07/9/2023, các bị cáo Nguyễn Thị T, Văn Đình T3Hồ Hậu T4 đã đánh bạc trái phép với số tiền: Nguyễn Thị TVăn Đình T3 là 63.050.000đ; Hồ Hậu T4 là 61.700.000đ. Ngày 08/9/2023, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị H3, Hồ Minh T1, Hồ Thị P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị P1 đã đánh bạc trái phép với số tiền: Trần Văn H là 342.630.000đ; Hồ Minh T1 là 359.000.000đ; Nguyễn Thị H3 là 343.950.000đ; Hồ Thị P là 249.900.000đ; Nguyễn Xuân T2 là 100.000.000đ; Nguyễn Thị P1 là 93.000.000đ; Nguyễn Thị T là 40.400.000đ. Số tiền các bị cáo dùng điện thoại nhắn tin đánh lô, đề nhưng chưa thực hiện việc chuyển tiền nên không truy thu do các bị cáo chưa thu lợi bất chính. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T đã bị Tòa cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Đánh bạc” theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ nhận định của bản án sơ thẩm xác định bị cáo H có vai trò chính trong vụ án, đối với bị cáo T phạm tội 02 lần trở lên. Căn cứ Quyết định số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì các bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo.

Do đó, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đã xử phạt các bị cáo Trần Văn H 18 (Mười tám) tháng tù và bị cáo Nguyễn Thị T 16 (Mười sáu) tháng tù là phù hợp. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

    - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 02/10/2023.

    - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/9/2023 đến ngày 15/9/2023.

  2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Trần Văn HNguyễn Thị T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - TAND, VKSND h. Quỳnh Lưu;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Lưu;
  • - Công an h. Quỳnh Lưu;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu Hsơ, Toà hsự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hải Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 108/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger