Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Tú Nhi;
  2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 102/2024/TLST–HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Xuân T, sinh năm 1976. Thường trú: số 144 (số cũ A) đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Địa chỉ liên hệ: số A, đường N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trương D, sinh năm 1976. Thường trú: số 144 (số cũ A) đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 3 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thị Xuân T trình bày:

Bà Phan Thị Xuân T và ông Trương D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2003, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương vào ngày 15/4/2003 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43/KH/03, quyển số 1 ngày 15/4/2003). Thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 01/2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông D thường xuyên bỏ đi khỏi nhà với người phụ nữ khác hơn một năm rồi không về nhà thăm vợ con và đã có con riêng, ông D sống không có trách nhiệm với vợ con, không đóng góp tiền để bà T lo cho con và gia đình, một mình bà T phải đi làm kiếm tiền lo toan mọi thứ trong gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà T đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hiện nay, bà T và cháu D1, cháu D2 đang sống tại nhà bà ngoại tại địa chỉ: 1, hẻm H, đường N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà T đang làm công nhân tại Công ty TNHH Y thu nhập khoảng 11.000.000 đồng/tháng, với thu nhập khoảng 11.000.000 đồng/tháng và gia đình bên ngoại hỗ trợ thì bà T đủ khả năng chăm sóc cho 02 con phát triển bình thường. Hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Trương Gia D3, sinh ngày 15/5/2004 (đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết) và cháu Trương Gia D4, sinh ngày 21/7/2008. Hiện nay, bà T không còn tình cảm gì đối với ông D, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, đã sống ly thân khoảng gần 02 năm, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết :

  1. Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với ông Trương Dinh .
  2. Về con chung: Bà Phan Thị Xuân T yêu cầu được nuôi con chung là cháu Trương Gia D4, sinh ngày 21/7/2008, không yêu cầu ông Trương D phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Trương D và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị Xuân T và ông Trương D là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Xuân T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phan Thị Xuân T khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Trương D, sinh năm 1976, thường trú: số A (số cũ A) đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Phan Thị Xuân T vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Trương D vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Phan Thị Xuân T với bị đơn ông Trương D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2003, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương vào ngày 15/4/2003 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43/KH/03, quyển số 1 ngày 15/4/2003 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà T trong thời gian chung sống giữa bà T và ông D thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 01/2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông D thường xuyên bỏ đi khỏi nhà với người phụ nữ khác hơn một năm rồi không về nhà thăm vợ con và đã có con riêng, ông D sống không có trách nhiệm với vợ con, không đóng góp tiền để bà T lo cho con và gia đình, một mình bà T phải đi làm kiếm tiền lo toan mọi thứ trong gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà T đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hai vợ chồng đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn ông Trương D tham gia tố tụng nhưng ông D vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông D vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông D là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà T yêu cầu được ly hôn với ông D là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Trương Gia D3, sinh ngày 15/5/2004 (đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết) và cháu Trương Gia D4, sinh ngày 21/7/2008. Bà T yêu cầu được nuôi cháu Trương Gia D4, không yêu cầu ông Trương D phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu D4 đang được bà T chăm sóc nuôi dưỡng phát triển bình thường, bà T có việc làm, có thu nhập đủ điều kiện để nuôi các con phát triển bình thường. Ngoài ra, cháu D4 đã đủ 07 tuổi có nguyện vọng sống chung với bà T. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu D4 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Xuân T đối với ông Trương D về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

· Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Xuân T được ly hôn với ông Trương D (Giấy chứng nhận kết hôn số 43/KH/03, quyển số 1 ngày 15/4/2003 do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 15/4/2003).

· Về con chung: Giao con chung cháu Trương Gia D4, sinh ngày 21/7/2008 cho bà Phan Thị Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Trương D không phải cấp dưỡng nuôi con chung Trương Gia D4.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

· Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Xuân T phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004564 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - UBND phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn bà Phan Thị Xuân T với bị đơn ông Trương D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger