|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH Bản án số: 108/2024/HSST Ngày: 24/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và bà Ngô Thùy Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Khánh - Thư ký viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Thái Thị Kim T, sinh năm 1973.
HKTT: Khu phố H, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn Q và bà Nguyễn Thị T1; có chồng là Đinh Văn C và 04 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 21/12/2023 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1968.
HKTT: Khu phố Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Đ và bà Nguyễn Thị K; có chồng là Nguyễn Đăng K1 và 02 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1989; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 21/12/2023 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
3. Nguyễn Văn C1, sinh năm 1975.
HKTT: Khu phố Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3; có vợ là Nguyễn Thị H1 và 04 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 21/12/2023 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
4. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1976.
HKTT: Khu phố Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T5; có vợ là Nguyễn Thị P và 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 135 ngày 01/9/2020 của Công an huyện Q (nay là thị xã Q) xử phạt cảnh cáo về hành vi "Đánh bạc trái phép".
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 20/12/2023 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
5. Nguyễn Văn T6, sinh năm 1990.
HKTT: Khu phố Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị H3; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 20/12/2023 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thế H4, sinh năm 1979, HKTT: Thôn P, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Tất cả các bị cáo đều có mặt, riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thế H4 vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 35 phút ngày 15/12/2023, tại nhà của Nguyễn Thị H thuộc Khu Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Công an thị xã Q phối hợp với Công an phường P bắt quả tang Nguyễn Thị H đang có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức bán số lô, số đề. Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10 màu xám Imei: 869389051396486.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiến hành kiểm tra điện thoại của H và căn cứ vào lời khai của H xác định: Ngày 15/12/2023, H nhận ghi số lô, số đề của Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn T6 và Nguyễn Văn T4. Sau đó, H chụp ảnh lại các tờ bảng cáp và chuyển toàn bộ qua mạng xã hội Zalo cho Thái Thị Kim T.
Ngày 15/12/2023, T đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đầu thú và khai nhận là chủ đề nhận các số lô, số đề do H chuyển đến. Ngày 16/12/2023, khám xét khẩn cấp nơi ở của Tuyến cơ quan CSĐT Công an thị xã Q thu giữ 01 tờ giấy A4 ghi các số lô, số đề và 01 bút bi màu xanh của T dùng để ghi các số lô, số đề.
Ngày 15/12/2023, T6 đến cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đầu thú khai nhận hành vi mua số lô, số đề của H và tự nguyện giao nộp 01 (Một) ĐTDĐ hiệu Samsung J3 màu vàng nhạt, số imei: 356412075469590.
Ngày 17/12/2023, C1 đã đến cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đầu thú khai nhận việc ghi số lô, số đề của cho Nguyễn Thế H4 và một số người chơi khác không rõ tên tuổi, địa chỉ rồi chuyển cho H và giao nộp 01 tờ giấy A4 ghi các số lô, số đề chuyển cho H; Cùng ngày, T4 đến đầu thú và khai nhận toàn bộ hành đánh bạc của bản thân.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q các bị can đã khai nhận hình thức tổ chức đánh bạc và thanh toán tiền cụ thể:
Do không có nghề nghiệp ổn định nên T đã nghĩ ra việc đánh bạc dưới hình thức bán các số lô, số đề cho những người chơi để kiếm lời. Qua quen biết nên T đặt vấn đề nhờ H làm thư ký trực tiếp bán các số lô, số đề cho khách rồi chuyển lại cho T để ăn phần trăm, H đồng ý. H chuyển các số lô, số đề cho T qua mạng xã hội Zalo. Theo thỏa thuận, H là người trực tiếp bán, thu tiền và thanh toán tiền thắng thua với người chơi. Khách mua số lô, số đề trực tiếp thì H sẽ thu của người chơi 21.800 đồng/1 điểm lô; tiền đề, 3 cửa, lô xiên là 83% trên tổng số tiền khách mua. Sau đó, H sẽ chuyển các số lô, số đề ghi của khách cho T với giá 21.700 đồng/1 điểm lô; tiền đề, 3cửa, lô xiên là 82% trên tổng số tiền khách mua. Các đối tượng sẽ đối chiếu tính được, thua và thanh toán vào ngày hôm sau. Ngày 15/12/2023, Nguyễn Văn C1 khi biết H nhận ghi số lô, số đề nên đã gọi điện đến hỏi H hỏi giá ghi số lô, số đề thì được H báo giá như trên. Sau đó, C1 tự nhận ghi số lô, số đề cho các người chơi với giá 23.000 đồng/ điểm lô và tiền cửa bằng 100% số tiền chơi sau đó chuyển toàn bộ bảng ghi số lô, số đề cho H để hưởng tiền chênh lệch.
Căn cứ lời khai các bị cáo và tài liệu thu thập xác định:
1. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn T6:
Ngày 15/12/2023, T6 sử dụng tài khoản zalo có tên “Mt” gửi tin nhắn đến tài khoản zalo của H có tên “Jdjdjjdxm” (trên điện thoại của T6 lưu tên là “?”) để mua các đánh số lô, số đề với tổng số tiền là 16.252.000 đồng. Trong đó: Tiền lô là 640 điểm x 21.800 đồng/ điểm = 13.952.000 đồng; tiền đề và ba càng là 2.300.000 đồng
So với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 thì T6 trúng 120 điểm lô, tương ứng với số tiền 120 điểm x 80.000 đồng/1 điểm = 9.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T6 đánh bạc với H là 16.252.000 đồng + 9.600.000 đồng = 25.852.000 đồng. T6 và H chưa thanh toán tiền với nhau.
2. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn T4:
Ngày 15/12/2023, T4 sử dụng tài khoản zalo có tên “Hoa Phượng Đỏ” của T4 gửi tin nhắn đến tài khoản zalo có tên “Jdjdjjdxm” của H để mua các số đề, ba càng tổng số tiền là 6.100.000 đồng. So với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 thì các số đề Tươi mua không trúng. Như vậy, tổng số tiền T4 đánh bạc với H là 6.100.000 đồng, H và T4 chưa thanh toán tiền với nhau.
3. Hành vi tổ chức đánh bạc của Nguyễn Văn C1:
- Ngày 15/12/2023, Nguyễn Thế H4 đến gặp trực tiếp C1 để đánh bạc qua hình thức ghi 20 điểm lô x 23.000 đồng/ điểm = 460.000 đồng. So với kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 H4 trúng 10 điểm lô, tương ứng với số tiền 800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H4 đánh bạc với C1 là 460.000 đồng + 800.000 đồng = 1.260.000 đồng. C1 đã nhận tiền ghi số lô của H4.
Ngoài ra Công còn bán các số lô, số đề cho một số người không quen biết với tổng số tiền là 45.410.000 đồng. Trong đó: Tiền lô là 1.770 điểm x 23.000 đồng = 40.710.000 đồng, tiền cửa, xiên, ba càng là: 4.700.000đ. So với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 thì những người khác trúng 550 điểm lô, tương ứng với số tiền 550 x 80.000 đồng = 44.000.000 đồng. Tổng số tiền C1 đánh bạc với người chơi khác là 45.410.000 đồng + 44.000.000đ = 89.410.000 đồng. C1 đã nhận tiền ghi số lô, số đề của những người chơi này.
Như vậy, tổng số tiền mà C1 dùng để đánh bạc với H4 và những người chơi khác là: 1.260.000 đồng + 89.410.000 đồng = 90.670.000 đồng.
Sau khi nhận các số lô, số đề của khách chơi thì C1 sao chép toàn bộ số lô, số đề của những người đánh bạc ra 01 tờ bảng cáp, rồi chụp ảnh và gửi tin nhắn hình ảnh qua mạng Zalo đến tài khoản Zalo có tên "Jdjdjjdxm" của H 45.870.000 đồng. Theo thỏa thuận giá của H nhận ghi số lô, số đề cho công là tiền Lô là: 42.923.000 đồng, trong đó: 1.790 điểm x 21.800đ = 39.022.000 đồng, tiền cửa là 4.700.000 đồng x 83% = 3.901.000 đồng. C1 hưởng lợi số tiền 45.870.000 đồng - 42.923.000 đồng = 2.947.000 đồng. C1 và H chưa thanh toán tiền với nhau.
4. Hành vi tổ chức đánh bạc của Nguyễn Thị H:
- Ngày 15/12/2023, H nhận các số lô, số đề từ tài khoản Zalo có tên “Mt” của T6 với tổng số tiền là 16.252.000 đồng. So với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 thì T6 trúng 120 điểm lô, tương ứng với số tiền 9.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T6 đánh bạc với H là 16.252.000 đồng + 9.600.000 đồng = 25.852.000 đồng.
- Ngày 15/12/2023, H nhận các số đề từ tài khoản Zalo có tên “Hoa Phượng Đỏ” của T4 với tổng số tiền là 6.100.000 đồng. So với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 thì các số đề Tươi mua không trúng. Như vậy, tổng số tiền T4 đánh bạc với H là 6.100.000 đồng.
- Ngày 15/12/2023, H nhận các số đề từ tài khoản Zalo có tên “Công Minh” của C1 với tổng số tiền là 45.870.000 đồng. So với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 thì C1 trúng 560 điểm lô, tương ứng với số tiền 44.800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền C1 đánh bạc với H là 90.670.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà H nhận đánh bạc với T6, T4, C1 là: 25.852.000 đồng + 6.100.000 đồng + 90.670.000 đồng = 122.622.000 đồng.
H đã chuyển số lô, số đề cho T với tổng số tiền là 68.222.000 đồng . Trong đó: 1790 điểm lô của C1 x 23.000 = 41.170.000 đồng; 640 điểm lô nhận của T6 x 21.800 = 13.952.000 đồng, tổng là: 55.122.000 đồng; T7 cửa là: 13.100.000 đồng (thực tế H thu tiền lô của C1, T6 là: 2430 điểm x 21.800 đồng/ điểm = 52.974.000 đồng; Tiền cửa của T6, T4, C1 là 13.100.000 đồng x 83% = 10.873.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền thực thế H nhận đánh bạc của các đối tượng là: 52.974.000 đồng + 10.873.000 = 63.847.000 đồng). Theo thoả thuận H chuyển cho T số tiền là 63.473.000 đồng. Trong đó: T7 lô 2430 điểm x 21.700 đồng/01 điểm = 52.731.000đồng; tiền đề, ba càng, lô xiên, cửa nhất là 13.100.000 đồng x 82% = 10.742.000 đồng. H hưởng lợi số tiền chênh lệch phần trăm là 63.847.000 đồng - 63.473.000 đồng = 374.000 đồng. H và T chưa thanh toán tiền với nhau. So với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 thì các số H chuyển cho T trúng 680 điểm lô, tương ứng với số tiền 680 điểm x 80.000 đồng = 54.400.000 đồng và không trúng số đề, xiên nào. Như vậy, tổng số tiền H tổ chức đánh bạc với T là 122.622.000 đồng.
5. Hành vi tổ chức đánh bạc của Thái Thị Kim T:
Ngày 15/12/2023, T nhận các số lô, số đề của H chuyển qua tin nhắn Zalo với tổng số tiền theo giá H nhận của người chơi là 68.222.000 đồng. So với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 15/12/2023 thì toàn bộ số lô, số đề mà H chuyển cho T trúng được số tiền 54.400.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Tuyến tổ chức đánh bạc ngày 15/12/2023 là 68.222.000 đồng + 54.400.000 đồng đồng = 122.622.000 đồng. H và T chưa thanh toán với nhau.
Theo thoả thuận H phải chuyển T số tiền là 63.473.000 đồng. Như vậy, T hưởng lợi số tiền là 63.473.000 đồng - 54.400.000 đồng = 9.073.000 đồng.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị can Thái Thị Kim T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn T6 và Nguyễn Văn T4 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số: 53/CT - VKSQV ngày 07/4/2024 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố các bị cáo Thái Thị Kim T, Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn C1 về tội "Tổ chức đánh bạc" theo điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T6 về tội "Đánh bạc" theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Các bị cáo Thái Thị Kim T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T6 đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã nêu trên và thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội. Các bị cáo đều xác định hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của mình là vi phạm pháp luật, hứa không tái phạm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thế H4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng xin giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên Cáo trạng và trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị HĐXX:
- - Tuyên bố các bị cáo Thái Thị Kim T, Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn C1 phạm tội "Tổ chức đánh bạc"; các bị cáo Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T6 phạm tội "Đánh bạc".
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
- + Xử phạt Thái Thị Kim T từ 32 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Nguyễn Thị H từ 28 đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 56 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Nguyễn Văn C1 từ 24 đến 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 48 đến 56 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- + Xử phạt Nguyễn Văn T4 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt Nguyễn Văn T6 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho tất cả các bị cáo.
- - Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Lưu hồ sơ 02 tờ giấy A4 ghi số lô, số đề.
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 ĐTDĐ hiệu Redmi 10 màu xám; 01 (Một) ĐTDĐ hiệu S; Số tiền 460.000 đồng.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi màu xanh.
- + Truy thu, tịch thu sung quỹ nhà nước, cụ thể: Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T4 số tiền là 6.100.000 đồng; Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T6 số tiền là 16.252.000 đồng; Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn C1 số tiền là 45.410.000 đồng; Truy thu của bị cáo Thái Thị Kim T số tiền là 54.400.000 đồng.
- - Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Tất cả các bị cáo đều nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người chứng kiến, xác định hiện trường vụ án, trưng cầu giám định, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thế H4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định:
Thái Thị Kim T là chủ lô đề tổng, thỏa thuận với Nguyễn Thị H về việc H làm thư ký nhận số lô số đề của khách chơi rồi chuyển lại cho T qua tin nhắn Zalo để H hưởng tiền chênh lệch. Sau đó, Nguyễn Văn C1 biết H là thư ký ghi lô đề nên nhắn tin hỏi giá ghi số lô, số đề rồi C1 tự nhận ghi số lô, số đề của các người chơi rồi chuyển qua tin nhắn zalo cho H để hưởng tiền chênh lệch.
Ngày 15/12/2023, Nguyễn Văn T6 có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh số lô, số đề qua tin nhắn zalo với Nguyễn Thị H tổng số tiền là 25.852.000 đồng (số tiền đánh 16.252.000 đồng, số tiền trúng 9.600.000 đồng). H và T6 chưa thanh toán tiền với nhau.
Ngày 15/12/2023, Nguyễn Văn T4 có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh số lô, số đề qua tin nhắn zalo với Nguyễn Thị H tổng số tiền là 6.100.000 đồng (không trúng). H và T4 chưa thanh toán tiền với nhau.
Ngày 15/12/2023, Trần Văn C2 có hành vi tổ chức đánh bạc với vai trò là người nhận ghi số lô, số đề cho Nguyễn Thế H4 và những đối tượng khác, sau đó tổng hợp bảng cáp và chuyển qua tin nhắn Z cho Nguyễn Thị H với tổng số tiền là 90.670.000 đồng (số tiền đánh 45.870.000 đồng, số tiền trúng 44.800.000 đồng). Số tiền này C2 và H chưa thanh toán với nhau. C2 được hưởng lợi số tiền 2.947.000 đồng.
Ngày 15/12/2023, Nguyễn Thị H có hành vi tổ chức đánh bạc với vai trò là thư ký có hành vi nhận ghi số lô, số đề của Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Văn T4 qua tin nhắn zalo sau đó tổng hợp rồi chuyển qua tin nhắn zalo cho chủ lô đề Thái Thị Kim T với tổng số tiền là 122.622.000 đồng (số tiền đánh 68.222.000 đồng, số tiền trúng 54.400.000 đồng). Số tiền này H và người chơi chưa thanh toán với nhau. H được hưởng lợi số tiền 374.000 đồng.
Ngày 15/12/2023, Thái Thị Kim T có hành vi tổ chức đánh bạc thông qua thư ký Nguyễn Thị H với tổng số tiền là 122.622.000 đồng (số tiền đánh 68.222.000 đồng, số tiền trúng 54.400.000 đồng). Số tiền này T và H chưa thanh toán với nhau. T hưởng lợi số tiền 9.073.000 đồng.
Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: các bị cáo Thái Thị Kim T, Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn C1 phạm tội "Tổ chức đánh bạc" theo điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T6 phạm tội "Đánh bạc" theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự.
[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới an ninh trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Đánh bạc cũng là một trong những nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác trong xã hội. Các bị cáo đều nhận thức được đánh bạc là vi phạm pháp luật, song vì hám lợi, các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
[2.3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
- - Các bị cáo T, H, C1, T6 có nhân thân tốt; bị cáo T4 từng bị xử phạt cảnh cáo về hành vi “Đánh bạc trái phép”
- - Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T4, T6 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo T, C1, T4, T6 sau khi phạm tội đã đến đầu thú và tự nguyên nộp tiền vào ngân sách nhà nước để thực hiện một phần nghĩa vụ đối với số tiền bị truy thu nên được hưởng tình tiết giảm nhé trách nhiệm hình sự theo Khoản 2, Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo T có bố đẻ là ông Thái Văn Q là thương binh loại A và bị cáo H có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị K tham gia dân công hỏa tuyến nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2, Điều 51 BLHS.
[2.4] Về vị trí, vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo trong vụ án này: Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện tội phạm không có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau nên chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, T là người khởi xướng, là chủ đề, chủ lô nên có vai trò chính, cao nhất; H là thư ký nhận số lô, số đề rồi chuyển cho T để hưởng chênh lệch nên có vai trò thứ hai; bị cáo C1 là thư ký nhận số lô, số đề rồi chuyển cho H để hưởng chênh lệch nên có vai trò thứ ba; kế đến là T4 và T6, trong đó T6 thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền lớn hơn nhiều so với T4 nên có tính chất nguy hiểm cao hơn Tươi.
[2.5] Về hình phạt chính: Xét thấy các bị cáo trong vụ án này đều có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tính chất mức độ phạm tội chưa nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải. Vì vậy, không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[2.6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều được UBND phường nơi các bị cáo cư trú xác nhận có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[2.7] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10 của bị cáo T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J3 mà bị cáo T6, các bị cáo này sử dụng vào việc nhắn tin ghi số lô, số đề nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với 02 tờ giấy A4 ghi các số lô, số đề là chứng cứ của vụ án nên lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.
Đối với 01 bút bi màu xanh mà bị cáo T dùng để ghi số lô, số đề, có giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 460.000 đồng mà Nguyễn Thế H4 dùng để đánh lô với Nguyễn Văn C1, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[2.8] Do các đối tượng đều chưa thanh toán với nhau tiền đánh bạc, tiền thắng bạc nên cần truy thu số tiền này dùng để đánh bạc, cụ thể:
Bị cáo T4 sử dụng số tiền đánh bạc là 6.100.000 đồng chưa thanh toán cho bị cáo H nên truy thu số tiền 6.100.000 đồng của bị cáo T4.
Bị cáo T6 sử dụng số tiền đánh bạc là 16.252.000 đồng chưa thanh toán cho bị cáo H nên truy thu số tiền 16.252.000 đồng.
Bị cáo Công nhận ghi số lô số đề của những người chơi đã thu được số tiền 45.870.000 đồng, khi đầu thú đã giao nộp 460.000 đồng nên truy thu của công số tiền là 45.410.000 đồng
Bị cáo H khi nhận các bảng lô đề của những người chơi nhưng chưa nhận tiền và chưa thanh toán với bị cáo T nên không truy thu đối với bị cáo H.
Bị cáo T đánh bạc với các đối tượng thông qua bị cáo H tổng số tiền là 122.622.000 đồng (số tiền đánh bạc là 68.222.000 đồng, số tiền trúng là 54.400.000 đồng) số tiền đánh bạc bị cáo T chưa nhận được nên cần truy thu số tiền trúng là 54.400.000 đồng của bị cáo T.
[2.9] Liên quan trong vụ án này:
Đối với Nguyễn Thế H4 có hành vi đánh bạc tuy nhiên số tiền sử dụng đánh bạc dưới chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và các đối tượng này không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với H4 là đúng quy định pháp luật.
Đối với những đối tượng khác đánh số lô, số đề với Nguyễn Văn C1 đều là những người đi đường, C1 và H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận ngày 15/12/2023 là ngày đầu tiên các bị cáo đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiếp tục xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với 03 chiếc điện thoại của T, C1 và T4 sử dụng để chuyển các số lô, số đề Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận đều đã làm rơi mất, cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã ra thông báo truy tìm vật chứng đến nay chưa thu hồi được.
[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Thái Thị Kim T, Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn C1 phạm tội "Tổ chức đánh bạc"; các bị cáo Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T6 tội "Đánh bạc".
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Thái Thị Kim T 32 (Ba mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt Nguyễn Thị H 28 (Hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 56 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt Nguyễn Văn C1 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 50 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn T4 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt Nguyễn Văn T6 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo bị cáo Thái Thị Kim T cho UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T6 cho UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- - 01 (Một) ĐTDĐ hiệu Redmi 10 màu xám, số imei: 869389051396486 (Đã qua sử dụng).
- - 01 (Một) ĐTDĐ hiệu Samsung J3 màu vàng nhạt, số imei: 356412075469590 (Đã qua sử dụng).
- - Số tiền 460.000 (Bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi màu xanh.
- Truy thu, tịch thu sung quỹ nhà nước, cụ thể:
- - Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T4 số tiền là 6.100.000 (Sáu triệu, một trăm nghìn) đồng;
- - Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T6 số tiền là 16.252.000 (Mười sáu triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn) đồng.
- - Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn C1 số tiền là 45.410.000 (Bốn mươi lăm triệu, bốn trăm mười nghìn) đồng.
- - Truy thu của bị cáo Thái Thị Kim T số tiền là 54.400.000 (Năm mươi tư triệu, bốn trăm nghìn) đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ và Biên lai thu số 0001553 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.
- Lưu hồ sơ vụ án 02 tờ giấy A4 ghi số lô, số đề.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Thái Thị Kim T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xác nhận: Bị cáo Nguyễn Văn T4 đã nộp 5.200.000 đồng theo Biên lai thu số 0001624 ngày 20/5/2024; bị cáo Nguyễn Văn T6 đã nộp 5.200.000 đồng theo Biên lai thu số 0001623 ngày 20/5/2024; bị cáo Nguyễn Văn C1 đã nộp 10.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0001625 ngày 20/5/2024; bị cáo Thái Thị Kim T đã nộp 20.200.000 đồng theo Biên lai thu số 0001615 ngày 15/5/2024.
- Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đình Công |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thế Sách |
Ngô Thùy Phương |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Công |
Bản án số 108/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 108/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc
