|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2024/HS-ST Ngày 23/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Khương và bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên toà: Ông Lê Viết Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án A, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Thị Trúc L (tên gọi khác: không); Sinh ngày 15 tháng 4 năm 1997; Tại: Gia Lai;
Nơi đăng ký thường trú: Buôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở trước khi phạm tội: Số B P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lăk; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán quần áo; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Quang B, sinh năm 1968 và con bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1977; bị cáo có chồng là Lê Chí B1, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2021.
Tiền án: Không; và có 01 tiền sự: Ngày 02/8/2022, U ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Không đăng ký thành lập hộ kinh doanh; Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ; Không nộp hồ sơ khai thuế, nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định; Năm 2021, năm 2022 không đăng ký, kê khai thu, nộp phí, lệ phí với cơ quản quản lý Nhà nước theo quy định”, đã nộp phạt xong vào ngày 11/8/2022.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2023 cho đên nay – Có mặt.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lê Chí B1, sinh năm 1996; trú tại: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- + Ông Nông Văn H1, sinh năm1991; trú tại: Tổ dân phố F, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.
- + Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố F, P. K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- + Bà Trương Thị Mỹ V, sinh năm 1992; trú tại: Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- + Bà Trần Thị Như T, sinh năm 1994; trú tại: Số D P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- + Bà Lê Thị Thu C, sinh năm 1997; trú tại: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- + Ông Y Tuyn N, sinh năm 1994; trú tại: Buôn K, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
(Ông B1 có mặt, người liên quan còn lại có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Trúc L là chủ hộ kinh doanh Trần Thị Trúc L, địa chỉ: Số B P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 40A8049274 ngày 30/6/2022 do Phòng Tài chính, Kế hoạch thành phố B, cấp ngày 30/6/2022, ngành nghề kinh doanh là: Mua, bán quần áo.
Từ năm 2021 đến năm 2023 L đã đặt làm các sản phẩm may mặc có nhãn hiệu như: Adidas, N1, P1, LeCoq S dễ tiêu thụ trên thị trường của chị Trương Thị Mỹ V và chị Hoàng Thị P để bán lại cho người dân nhằm mục đích thu lợi, cụ thể:
+ Năm 2021 thông qua mạng xã hội L quen biết V. L dùng điện thoại hiệu Iphone 13 Pro Max, gắn sim số 0349.790640 đăng ký tài khoản tên “Kho sĩ L Trần SLL” kết bạn zalo với chị V qua tài khoản “Vy” để mua, bán các loại áo, quần thể dục, áo thun trơn, áo khoác trơn của nam, nữ, không có nhãn hiệu và một số áo khoác giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, L1. Sau đó L tìm các hình ảnh các mẫu áo khoác mang nhãn hiệu của A, N1, P1, LeCoq Sportif trên mạng xã hội rồi gửi qua tài khoản zalo của V và đặt V sản xuất với giá khoảng 90.000 đồng đến 95.000 đồng/cái áo khoác (giá cả tùy thuộc vào từng thời điểm khác nhau và có sự chênh lệnh từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng). Sau khi nhận đơn đặt hàng của L thì chị V tìm kiếm tem, nhãn mác, lô gô có hình, chữ của nhãn hiệu Adidas, N1, P1, LeCoq Sportif trên mạng xã hội rồi đặt hàng, nhận hàng và thanh toán bằng tiền mặt cho nhân viên giao hàng tiết kiệm. Sau đó chị V đến các sạp bán vải tại chợ T5, chợ T6, thành phố Hồ Chí Minh lựa chọn vải có chất liệu, màu sắc giống mẫu mã mà L đặt rồi mua và thanh toán bằng tiền mặt cho chủ sạp vải. Quá trình mua các nhãn hiệu, logo chị V không xác định được nhân thân, lai lịch của những người bán vải, tem, nhãn mác, lô gô. Sau đó, V trực tiếp vẽ, cắt vải theo kích cỡ, size khác nhau, và thuê gia công thành phẩm áo khoác, rồi V sử dụng máy may, máy ép nhiệt để may, gắn tem, nhãn mác, in lô gô giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, LeCoq Sportif lên áo khoác để hoàn thiện sản phẩm. Sau đó, V giao các sản phẩm (áo khoác) giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, L1 đến hộ kinh doanh của L, địa chỉ: B P phường T, thành phố B thông qua các xe ô tô dịch vụ tại huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận được hàng, L sử dụng tài khoản ngân hàng số 0109762400 tại ngân hàng Đ mang tên Trần Thị Trúc L và tài khoản ngân hàng số 5220205158187 mang tên Lê Chí B1 (chồng của L) để thanh toán, chuyển khoản tiền mua hàng vào số tài khoản 050054755225 tại ngân hàng S2 mang tên Nguyễn Xuân V1 (chồng của V) cho chị V.
+ Năm 2023 L quen biết P. L dùng điện thoại hiệu Iphone 13 Pro Max, gắn sim số 0349.790640 tài khoản tên “Kho sĩ L Trần SLL” kết bạn zalo với chị P có tên “Đồng Phục Phương H2” (số điện thoại đăng ký là 0347.225.xxx) của bà P để đặt bà P may áo sơ mi trắng và các loại áo khoác giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, Le Coq S với giá khoảng 80.000 đồng đến 90.000 đồng/cái áo khoác (giá cả tùy thuộc vào từng thời điểm khác nhau và có sự chênh lệnh từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng) để bán lại cho khách thu lợi. Sau khi nhận đơn đặt hàng của L thì chị P đến chợ đầu mối tại thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua vải và các tem, nhãn mác, lô gô có hình, chữ nhãn hiệu Adidas, N1, P1, LeCoq Sportif (không nhớ rõ tên, địa chỉ các người bán hàng). Sau đó chị P nói chị Nguyễn Thị Anh V2 (sinh năm 1980, trú tại Phường K, thành phố B) và anh Trần Văn T1 (sinh năm 1999, trú tại 2 N, phường E, thành phố B) là nhân viên của cửa hàng để cắt vải và may áo, chị P sử dụng máy may, máy ép nhiệt để may, gắn tem, nhãn mác, in lô gô giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, LeCoq S lên từng cái áo khoác và chở số sản phẩm may mặc đến tại địa chỉ: B P, phường T, thành phố B, để giao cho L. Sau khi kiểm hàng, L sử dụng tài khoản ngân hàng số 0109762400 mang tên Trần Thị Trúc L hoặc tài khoản ngân hàng số 5220205158187 mang tên Lê Chí B1 để thanh toán, chuyển khoản tiền mua hàng vào số tài khoản 120714849094101 tại ngân hàng E của chị P.
Toàn bộ các sản phẩm may mặc có nhãn hiệu như: Adidas, N1, P1, LeCoq Sportif, Trần Thị Trúc L mua của chị Trương Thị Mỹ V và chị Hoàng Thị P thì L cất giữ tại địa chỉ: B P, phường T, thành phố B. L thuê chị Trần Thị Như T và chị Lê Thị Thu C đóng gói sản phẩm để bán lại cho khách hàng, thu lời khoảng từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng/1 sản phẩm. Đến khoảng 11 giờ ngày 10/7/2023 anh Y Tyun N2 đến cửa hàng của Trần Thị Trúc L mua 07 cái áo khoác. Sau đó anh Y T2 đi về thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện kiểm tra nguồn gốc hàng hoá nhưng anh Y T2 không xuất trình được hoá đơn nguồn gốc và trình bày đã mua từ cửa hàng của L. Sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã kiểm tra kho hàng của Trần Thị Trúc L và tạm giữ nhiều sản phẩm áo khoác không có hoá đơn, chứng từ.
Tại Kết luận giám định sở hữu công nghiệp số: NH797-23TC.TP/KLGĐ ngày 02/10/2023 của V3 hữu trí tuệ - Bộ K và công nghệ, kết luận: 1854 cái áo khoác gắn dấu hiệu “adidas” gửi giám định là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 487580 của A1. (theo điều 213.2 Luật SHTT); 160 cái áo khoác gắn dấu hiệu “NIKE” gửi giám định là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho các mặt hàng quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 3440 của Nike innovate c.v. (theo điều 213.2 Luật SHTT); 140 cái áo khoác gắn dấu hiệu “PUMA và hình” gửi giám định là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 582886 của PUMA SE (theo điều 213.2 Luật SHTT); 140 cái áo khoác gắn dấu hiệu “le coq sportif” gửi giám định là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo khoác thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 431678 của LCS INTERNATIONAL SAS. (theo điều 213.2 Luật SHTT).
Tại Kết luận giám định sở hữu công nghiệp số: NH082-24TC.TP/KLGĐ ngày 07/3/2024 của V3 hữu trí tuệ - Bộ K và công nghệ, kết luận: 15 cái áo khoác gắn dấu hiệu “le coq sportif” gửi giám định là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo khoác thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 431678 của L2 (theo điều 213.2 Luật SHTT).
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 3203/KL-HĐĐG ngày 02/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk, kết luận: 1.854 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Adidas, trị giá 194.670.000 đồng; 160 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Nike, trị giá 16.800.000 đồng; 140 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Puma, trị giá 14.700.000 đồng; 140 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Le Coq sprtif, trị giá 14.700.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 240.870.000 đồng.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 223/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 15 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Le Coq sprtif, trị giá là 1.395.000 đồng.
Cáo trạng số 91/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Trần Thị Trúc L về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát đã truy tố. Người liên quan ông B1 xác định bản thân ông làm nghề mua bán xe cũ, chỉ biết vợ là bà L kinh doanh quần áo nhưng không biết việc bà đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật; ông không giúp sức cũng như tham gia gì. Việc bà L dùng tài khoản của ông để chuyển tiền mua bán hàng hóa ông không biết, vì là vợ chồng nên ông giao cho bà L quản lý tài khoản và kinh tế.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Qua phân tích, đánh giá tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đồng thời đề cập các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Trúc L phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”. Áp dụng khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS:
Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc L mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tại không giam giữ và phạt bổ sung số tiền từ 80.000.000đồng đến 100.000.000đồng.
- Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 2.294 sản phẩm áo khoác các loại, gồm: 1.854 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Adidas; 160 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Nike; 140 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Puma; 140 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Le Coq sprtif và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 13 Pro Max, số máy MLLN3VN/A, số sê ri Q1P93VQ5T9, IMEID 355908669226743 cả Trần Thị Trúc L và 15 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Le Coq sprtif tài sản của Hoàng Thị P.
- + Trả lại cho ông Y Tuyn N 07 sản phẩm áo khoác gồm 01 cái áo thun và 06 cái áo khoác, không gắn nhãn hiệu.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 13 Pro Max, số máy MLLN3VN/A, số sê ri Q1P93VQ5T9, IMEID 355908669226743, đã qua sử dụng của Trần Thị Trúc L.
- Về trách nhiệm dân sự: Các Công ty A2, N3, P1 và Le C1 sprtif không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Bị cáo không tranh luận gì thêm và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và khiếu nại về hành vi của những người tiến hành tố tụng, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra những người này đều đã có lời khai, nội dung vụ án đã được làm rõ nên việc xét xử vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là phù hợp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, các quy định về quản lý trật tự quản lý kinh tế. Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến tháng 7 năm 2023 tại thành phố B, Trần Thị Trúc L đã đặt may và mua 2.294 sản phẩm áo khoác các loại không được sự đồng ý của các chủ thể đã được đăng ký bản quyền, quyền sở hữu công nghiệp đối với sản phẩm quần áo nhãn hiệu Adidas, N1, P1 và Le C1 sprtif, gồm: 1854 cái áo khoác nhãn hiệu Adidas, 160 cái áo khoác nhãn hiệu Nike, 140 cái áo khoác nhãn hiệu Puma, 140 cái áo khoác nhãn hiệu Le Coq Sportif của chị Trương Thị Mỹ V và chị Hoàng Thị P, tổng trị giá hàng hoá là 240.870.000 đồng rồi mang về cất giữ tại hộ kinh doanh, địa chỉ B P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để bán lại cho khách hàng, nhằm thu lợi bất chính thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện.
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”, theo quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
Khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:
“1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận thức được các nhãn hiệu thời trang Adidas, P1, N1, Le Coq S được bảo hộ theo đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Việt Nam. Mặc dù không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc là người được chủ sở hữu nhãn hiệu Adidas, N1, P1, Le Coq S chuyển quyền sử dụng nhưng vì mục đích thu lợi bất chính bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp của người khác được pháp luật bảo hộ, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc dân và môi trường kinh doanh, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân; Nên cần áp dụng mức hình phạt mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa loại tội phạm này.
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- + Tịch thu tiêu hủy: 2.294 sản phẩm áo khoác các loại, gồm: 1.854 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Adidas; 160 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Nike; 140 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Puma; 140 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Le Coq sprtif và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 13 Pro Max, số máy MLLN3VN/A, số sê ri Q1P93VQ5T9, IMEID 355908669226743 cả Trần Thị Trúc L và 15 sản phẩm áo khoác nhãn hiệu Le Coq sprtif tài sản của Hoàng Thị P.
- + Trả lại cho ông Y Tuyn N 07 sản phẩm áo khoác gồm 01 cái áo thun và 06 cái áo khoác, không gắn nhãn hiệu, vi không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo L.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 13 Pro Max, số máy MLLN3VN/A, số sê ri Q1P93VQ5T9, IMEID 355908669226743, do bị cáo Trần Thị Trúc L dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các Công ty A2, N3, P1 và Le C1 sprtif không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xử lý.
[6] Nội dung khác:
- + Ông Nông Văn H1 cho L thuê nhà tại B P, phường T, thành phố B nhưng không biết L dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- + Đối với hành vi gia công, sản xuất các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, Le Coq S của chị Hoàng Thị P. Quá trình điều tra xác định: Trong quá trình giao dịch mua bán các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, Le Coq S1, chị Hoàng Thị P không lập chứng từ, ghi chép sổ sách, không nhớ đã bán bao nhiêu lần, đặc điểm, số lượng hàng hoá đã bán cho L. Trong số hàng hoá tạm giữ của bị cáo Trần Thị Trúc L, chị P không xác định được những sản phẩm nào trực tiếp gia công, sản xuất, không có căn cứ để xác định trị giá hàng hóa nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- + Đối với 15 sản phẩm áo khoác gắn nhãn hiệu Le Coq Sportifty mà Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ tạm giữ của chị Hoàng Thị P, có giá trị là 1.395.000 đồng; Căn cứ Điều 12 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/08/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; khoản 11, Điều 1 Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ; năng lượng nguyên tử, hành vi trên của bà P không vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
- + Đối với hành vi gia công, sản xuất các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, Le Coq S1 của Trương Thị Mỹ V, hiện đang được Cơ quan CSĐT Công an T7 điều tra theo Quyết định Khởi tố vụ án hình sự số 143/QĐ-CSKT-Đ3 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
- + Đối với anh Lê Chí B1 là chồng của L không tham gia giao dịch, buôn bán các loại sản phẩm may mặc giả mạo các nhãn hiệu Adidas, N1, P1, Le Coq S1. Bà Trần Thị Như T, bà Lê Thị Thu C là các nhân viên được L thuê làm việc, không biết các sản phẩm này là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu nêu trên nên Cơ quan điều tra đều không đề cập xử lý là phù hợp.
- + Đối với ông Y Tuyn N mua 01 áo thun và 06 áo khoác không gắn nhãn hiệu, là các sản phẩm may mặc do L đặt may và mua của chị Trương Thị Mỹ V rồi bán lại cho Y Tuyn N, không liên quan đến nội dung hành vi phạm tội của L nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
- + Đối với hành vi mua bán các sản phẩm may mặc giả mạo nhãn hiệu những lần trước đây của L. Quá trình điều tra xác định: Trần Thị Trúc L không ghi chép sổ sách, không nhớ đã mua sản phẩm giả mạo nhãn hiệu của chị Trương Thị Mỹ V và chị Hoàng Thị P bao nhiêu lần, đặc điểm, số lượng hàng hoá cụ thể từng lần, đã bán được bao nhiêu sản phẩm, không xác định được số tiền thu lợi bất chính. Các đối tượng đã mua các sản phẩm may mặc, các cá nhân, cơ sở tổ chức đã bán tem, nhãn mác và lô gô giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, Le Coq S1 cho bà P, bà V đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ; nên Cơ quan điều tra tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
- + Đối với hành vi gia công, sản xuất các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu Adidas, N1, P1, Le Coq S của chị Trương Thị Mỹ V, hiện đang được Cơ quan CSĐT Công an T7 điều tra theo Quyết định Khởi tố vụ án hình sự số 143/QĐ-CSKT-Đ3 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ nên không đề cập trong vụ án này.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Trúc L phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 226; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc L 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Trần Thị Trúc L cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
+ Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Trần Thị Trúc L số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 2.294 sản phẩm là áo khoác các loại thu giữ của Trần Thị Trúc L được niêm phong trong 36 bao xác rắn, dán giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, có các chữ ký ghi tên Lê Quang T3, Trần Thị Trúc L, Trần Thị Như T;
- + 15 sản phẩm là áo khoác nhãn hiệu Le coq sportif màu trắng thu giữ của Hoàng Thị P được niêm phong trong 01 bao ni long màu đen, dán giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T7, có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thị H3, Hoàng Thị P;
- Trả lại cho Y Tuyn N 07 sản phẩm là áo khoác và áo thun thu giữ của Y Tuyn N được niêm phong trong 01 bao ni long, dán giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đ, có các chữ ký ghi tên Trương Sỹ H4, Y Tuyn N;
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 13 Pro Max, số máy MLLN3VN/A, số sê ri Q1P93VQ5T9, IMEID 355908669226743, đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng hoạt động) được niêm phong trong 01 bì thư màu trắng có đóng dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T7, có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thị H3, Trần Thị Trúc L.
(Như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T7 và Chi cục thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột ngày 16/4/2024).
4. Về trách nhiệm dân sự: Các Công ty A2, N3, P1 và Le C1 sprtif không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xử lý.
5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thị Trúc L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ HỒNG THANH |
10
Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự: xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Số bản án: 108/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Trúc L phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”
