|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HSST
Ngày 23/04/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn C
- Bà Nguyễn Thị Thanh H
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy T – Cán bộ Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 23/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 22/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 28/3/2024 đối với bị cáo:
Phan Thành N, sinh năm 2000.
HKTT và nơi ở: thôn G, xã T, huyện T, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn T, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba, bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 06/10/2021, Viện kiểm sát huyện N, tỉnh Nghệ An ra Quyết định đình chỉ vụ án và Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can căn cứ theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự).
Bị cáo bị tạm giam ngày 03/08/2023, hiện đang bị giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. SG: 4168C2/4. Có mặt tại phiên tòa
Các bị hại:
- + Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1995;
- HKTT: Tổ F, cụm A, phường P, quận T, Hà Nội.
- + Anh Đào Mạnh T1, sinh năm 1995;
- HKTT: Số F đường A phường V, quận H, Hà Nội.
- + Chị Bùi Thị Ngọc Á, sinh năm 2002. Có mặt
- HKTT: Khe Sừng, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái.
- + Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994;
- HKTT: Tổ B, phường P, quận H, Hà Nội
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1958;
- HKTT: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định
- + Anh Trần Mạnh H1, sinh năm 2001; Có mặt
- HKTT: xã V, huyện T, tỉnh Nam Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thành N là đối tượng nghiện game online, sau khi tốt nghiệp đại học do không có công ăn việc làm ổn định nên N nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của người khác thông qua việc tạo ra nhiều tài khoản facebook đặt mua các xe máy trên mạng sau đó đến gặp chủ sở hữu xem xe và đề nghị đi thử xe, trong quá trình đi thử xe, N sẽ giả vờ làm rơi ví rồi nhờ chủ xe xuống xe nhặt hộ, sau đó N nhanh chóng điều khiển phương tiện tẩu thoát khỏi hiện trường. Bằng thủ đoạn trên, trong tháng 7/2023, N đã thực hiện 04 vụ cướp giật tài sản, cụ thể như sau:
*Vụ thứ 1:
Ngày 03/7/2023, N sử dụng tài khoản facebook ảo có tên “Long Nguyễn” vào bình luận trong một bài đăng trong hội nhóm mua bán xe máy trên Facebook và liên hệ với chị Nguyễn Thị Thùy L (sinh năm 1995, HKTT: HKTT: Tổ 6, cụm A phường P, quận T, Hà Nội) để mua xe Honda SH 150 màu đỏ mang BKS: 29F1-492.97. Khoảng 15h cùng ngày, N đến đầu ngõ D A, T, Hà Nội gặp chị L để xem xe. Tại đây, N bảo chị L cho xem đăng ký xe rồi bỏ vào trong cốp xe và bảo chị L ngồi sau xe Honda SH 150 màu đỏ mang BKS: 29F1-492.97 để N điều khiển đi thử xe. Sau đó, N kẹp một chiếc ví giả da kích thước (10x20)cm ở tay lái trên trái và điều khiển xe đến khu vực đường A, phường P, quận T, Hà Nội thì giả vờ làm rơi ví và nhờ chị L xuống xe nhặt hộ. Trong lúc chị L xuống xe để nhặt hộ ví thì N nhanh chóng điều khiển xe máy của chị L tẩu thoát.
Đến khoảng 17 giờ ngày 03/7/2023, N đem chiếc xe máy chiếm đoạt được cùng đăng ký xe mang tên Ngô Hoàng L1 đến cửa hàng cầm đồ sinh viên tại số A T, T, T, Hà Nội do ông Nguyễn Văn M (sinh năm 1958, HKTT: xóm C, H, H, Nam Định là quản lý) để cầm cố chiếc xe được 66.000.000 đồng, tiền lãi 1.500đồng/1 triệu/ 1 ngày, thời hạn 10 ngày. Quá trình giao dịch với ông M, N đưa căn cước công dân mang tên Vũ Văn B (sinh năm 2000, HKTT: X3, T, G, G, Ninh Bình, do N mua trên mạng xã hội) bản thân tên Vũ V, đồng thời cam kết chiếc xe là do N mua lại, không tranh chấp để ông M tin tưởng đồng ý cầm cố xe. Số tiền 66.000.000 đồng cầm cố xe, N đã sử dụng vào chơi gam hết.
Ngày 15/8/2023, sau khi biết thông tin chiếc xe máy trên là vật chứng của vụ án, ông M đã tự nguyện giao nộp chiếc xe Honda SH 150 màu đỏ, BKS: 29F1-492.97 cho cơ quan điều tra.
Vụ thứ 2:
Ngày 08/7/2023, N sử dụng 01 tài khoản facebook ảo “Hoàn Trần” vào các hội nhóm mua bán xe máy và liên hệ qua tin nhắn Messenger với anh Nguyễn Văn Q (sinh năm 1994, HKTT: tổ B, P, H, Hà Nội) để hỏi mua chiếc xe Honda SH 125 màu trắng-bạc-đen mang BKS: 29L5-353.34. Đến khoảng 13 giờ 00 ngày 08/7/2023, anh Q nhờ anh Bùi Thế H2 (SN: 1987; Nơi ĐKNKTT: Tổ B phường P, quận H, Hà Nội) mang chiếc xe Honda SH 125, BKS: 29L5-353.34 cùng giấy đăng ký xe mang tên Vũ Thị Diệu H3 (sinh năm 1983, HKTT: Chung cư V, B, Hà Nội) ra khu vực B, phường P, H, Hà Nội cho N xem xe. Tại đây, N bảo anh H2 cho xem đăng ký xe rồi bỏ vào cốp xe. Sau đó, N đề nghị anh H2 ngồi sau xe để N điều khiển xe đi thử và tiếp tục kẹp một chiếc ví giả da kích thước (10x20)cm (đã chuẩn bị từ trước) ở tay lái bên trái và điều khiển xe đến khu vực đường B, phường P, H thì giả vờ làm rơi ví và nhờ anh H2 xuống xe nhặt hộ. Trong lúc anh H2 xuống xe để đi nhặt hộ ví thì N nhanh chóng điều khiển xe máy tẩu thoát.
Đến khoảng 18h ngày 08/7/2023, N mang chiếc xe máy chiếm đoạt được đến cửa hàng cầm đồ sinh viên tại số A T, T, T, Hà Nội của ông Nguyễn Văn M (sinh năm 1958, HKTT: xóm C, H, H, Nam Định là quản lý) để cầm cố chiếc xe được 50 triệu đồng, lãi suất 1.500 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày, thời hạn 10 ngày. Quá trình giao dịch với ông M, N đưa căn cước công dân mang tên Vũ Văn B, đồng thời N cam kết chiếc xe là do N mua lại, không tranh chấp để ông M tin tưởng. Ngày 26/7/2023, hết thời hạn cầm cố, không thấy N quay lại lấy xe, ông M đã bán chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i ABS màu trắng-bạc-đen, BKS: 29L5-353.34, cho ông Đỗ Thanh N1 (sinh năm 1975, HKTT: Thôn T, Đ, V, Thái Bình; nơi ở : số D, Cầu B, K, H, Hà Nội với giá 55.000.000 đồng.
Ngày 28/8/2023, sau khi biết thông tin chiếc xe Honda SH 125i ABS màu trắng-bạc-đen, BKS: 29L5-353.34 là vật chứng của vụ án, ông N1 đã đem chiếc xe giao nộp cho cơ quan điều tra.
Vụ thứ 3:
Ngày 11/7/2023, N sử dụng tài khoản facebook ảo “Nguyễn H4” vào các hội nhóm mua bán xe máy và liên hệ qua tin nhắn Messenger với anh Đào Mạnh Tuấn (sinh năm 1995, HKTT: Số F đường A phường V, quận H, Hà Nội) để mua bán xe máy Honda SH 150i màu trắng BKS: 29T2-122.83. Khoảng 12 giờ ngày 11/7/2023, tại khu vực phường X, T, Hà Nội, N gặp anh T1 để đi thử xe SH 150i màu trắng BKS: 29T2-122.83, N bảo anh T1 cho xem giấy tờ xe rồi cất lại vào ví nhỏ treo ở đầu xe. Sau đó, N đề nghị anh T1 ngồi sau xe để N điều khiển xe đi thử. N kẹp một chiếc ví giả da kích thước (10x20)cm (do N chuẩn bị từ trước) ở tay lái bên trái và điều khiển xe tại vực đường H, phường X, T thì giả vờ làm rơi ví và nhờ anh T1 xuống xe nhặt hộ. Trong lúc anh T1 xuống xe để nhặt hộ ví thì N nhanh chóng điều khiển xe máy tẩu thoát.
Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe máy, đến khoảng 14 giờ ngày 11/7/2023, N đem xe đến cầm cố cho anh Lâm Khánh T2 (sinh năm 1984, HKTT: Tổ dân phố cơ khí Y, G, Hà Nội) là quản lý cửa hàng cầm đồ Sinh Viên, địa chỉ số B, Lê Thanh N2, Cầu D, H, Hà Nội. Quá trình giao dịch với T2, N đưa cho anh T2 giấy đăng ký xe bản chính, căn cước công dân bản chính mang tên Đào Mạnh T1 (sinh năm 1995, HKTT: số F, đường A, H, Hà Nội) và tự nhận mình là Đào Mạnh T1. Anh T2 thấy giấy tờ xe trùng khớp với biển kiểm soát xe và số máy của xe nên đồng ý cầm cố với giá 80 triệu đồng và thỏa thuận trong vòng 5 ngày nếu N không quay lại lấy thì T2 sẽ thanh lý xe. Số tiền 80.000.000 đồng, N sử dụng chơi game và tiêu sài cá nhân hết. Sau 05 ngày, anh T2 có gọi điện cho N nhiều lần nhưng không liên hệ được. Đến ngày 19/7/2023, anh T2 đã bán chiếc xe máy trên cho một nam thanh niên tên M (không xác định được nhân thân) với giá 72.000.000 đồng để thu hồi vốn nên Cơ quan điều tra không thu hồi được vật chứng.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối với chiếc xe máy Honda SH 150i màu trắng BKS: 29T2-122.83, đến nay chưa thu hồi được.
Vụ thứ 4:
Ngày 18/7/2023, N sử dụng tài khoản Facebook “Trung Trần” vào hội nhóm mua bán xe máy thấy bài đăng từ Facebook “Hải N3” của anh Nguyễn Xuân H5 (SN: 1994; Quê quán ở L, tỉnh Bắc Giang) đang rao bán chiếc xe máy Honda SH 150i màu trắng BKS: 21K1-612.22, (là tài sản của chị Bùi Thị Ngọc Á - sinh năm 2002, HKTT: Khe Sừng, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái) nhờ anh Hải đ bán hộ. Sau khi nhắn tin trao đổi, N sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Tuấn S” kết bạn Zalo với chị Á và trao đổi việc mua bán xe với chị Á. Khoảng 13h30 ngày 18/7/2023, tại khu vực ngõ D đường M, phường M, N, Hà Nội, N gặp chị Á theo hẹn và yêu cầu cho đi thử xe. Cùng thủ đoạn như các vụ trước, khi N điều khiển xe máy Honda SH 150i màu trắng BKS: 21K1-612.22 chở chị Á đi thử trên đường khi đi đến phía sau Cung điền kinh dưới nước thuộc phường M, Nam Từ L2 thì giả vờ rơi ví rồi nhờ chị Á xuống xe nhặt hộ. Trong lúc chị Á xuống xe nhặt hộ ví thì N nhanh chóng điều khiển xe máy tẩu thoát.
Đến 15h cùng ngày, N đem xe đến cửa hàng ký gửi số C T, T, Hà Nội của anh Nguyễn Văn K (sinh năm 1976, HKTT: xóm N, xã H, H, Nam Định) để cầm cố chiếc xe máy SH màu trắng BKS 21K1-612.22. Anh K hỏi N về nguồn gốc xe thì N nói đây là xe mua lại và đưa giấy đăng ký xe cho anh K kiểm tra, anh K xác định là giấy đăng ký xe thật nên tiếp tục kiểm tra trên mạng thì ra kết quả là xe đang tình trạng vẫn lưu hành nên anh K đồng ý cho N ký gửi xe với giá 60.000.000 đồng (lãi thỏa thuận). N bảo anh K chuyển khoản 60.000.000 đồng vào tài khoản chơi game "SUN” của N.
Sau khi chơi game thua hết tiền, N tìm cách bán chiếc xe máy này để lấy tiền trả cho cửa hàng cầm đồ. Đến khoảng 19h30 cùng ngày, N vào nhóm mua bán xe Honda SH trên Facebook để liên hệ với anh Trần Mạnh H1 (sinh năm 2001, HKTT: V, T, Nam Định) để bán xe. N xưng tên là Nguyễn Tuấn S và nói với H1 “bạn muốn mua xe SH đúng không?” H1 nói đúng và hỏi N “xe có chính chủ không” thì N nói “xe chính chủ của em gái, đang cần tiền nên mình bán hộ, giấy tờ đăng ký xe và chứng minh thư đầy đủ”. Sau đó, N nhắn tin qua zalo hẹn H1 qua xem xe luôn tại số C N, T, T. Khoảng hơn 20h cùng ngày, H1 cùng bạn gái là chị Phạm Thị D (sinh năm 2001, HKTT: xóm N, xã T, T, Nam Định) đến gặp N tại trước cửa hàng cầm đồ số C T. Tại đây, N nói với H1 “chiều cần tiền gấp nên thế chấp xe tại đây, anh xem xe được thì lấy”. Sau khi H1 kiểm tra xe và các thông tin trên giấy đăng ký là thật thì đồng ý mua xe của N với giá 75.500.000 đồng. N bảo H1 chuyển khoản cho anh K (chủ cửa hàng cầm đồ) số tiền 60.900.000 đồng (trong đó 60 triệu đồng là tiền vay, 900.000 đồng là tiền lãi mà N tự nguyện trả cho anh K), đồng thời N bảo H1 chuyển khoản cho một người phụ nữ làm dịch vụ chuyển nhận tiền tại một cửa hàng điện thoại gần đó số tiền 14.600.000 đông để N lấy tiền mặt. Tổng số tiền N nhận từ H1 là 75.500.000 đồng. H1 đưa cho N tờ giấy là mẫu mua bán xe máy để N viết, N đã dùng căn cước công dân tên Nguyễn Tuấn S (do N mua trên mạng xã hội) để lấy thông tin viết giấy mua bán xe với H1. Số tiền 14.600.000 đồng. N nhờ người nạp vào tài khoản game S1 và chơi thua hết. Căn cước công dân mang tên Nguyễn Tuấn S, N đã vứt đi (không nhớ địa điểm vứt).
Sau xe mua được xe SH biển kiểm soát: 21K1-612.22, H1 sử dụng đến ngày 01/8/2023 thì đăng tin bán xe trên Facebook. Đến ngày 04/8/2023, H1 bán chiếc xe này cho anh Trịnh Công H6 (sinh năm 1997; HKTT: Xóm C, Y, Y, Nam Định) với giá 85 triệu đồng và giao cho anh H6 giấy đăng ký xe bản chính mang tên Nguyễn Thị Ngọc Á1, bản phô tô căn cước công dân Nguyễn Thị Ngọc Á1, đồng thời H1 cho anh H6 xem và gửi hình ảnh qua zalo anh H6 giấy mua bán xe 21K1-612.22 giữa Nguyễn Tuấn S (sinh ngày 29/12/2000, HKTT: số 131, tổ B, P, Đ, Hà Nội) với Trần Mạnh H1 đề ngày 18/7/2023, ảnh chụp căn cước công dân của Nguyễn Tuấn S. Ngoài ra, H1 còn chịu chi phí rút hồ sơ gốc xe 21K1-612.22 cho anh H6.
Đến ngày 06/8/2023, H1 nhờ anh Phan Ngân S2 (1995, HKTT tại T, Phú Thọ, có cửa hàng xe máy tại số A T, X, N) rút hồ sơ gốc của xe máy Honda SH 150i, màu trắng, biển kiểm soát: 21K1-612.22, Số khung: RLHKF4216NY108183; Số máy: KF42E1084810. Trong ngày 06/8/2023, Phan Ngân S2 đã nhờ chị Ngô Thị Thu H7 (sinh năm 1995, HKTT: tổ A, N, M, N, Hà Nội) làm thủ tục rút hồ sơ gốc đối với xe máy trên. H7 bảo S2 cung cấp hình ảnh căn cước công dân của người bán, người mua, chữ ký của người mua, đồng thời yêu cầu người mua đưa biển kiểm soát xe máy, bản cà số khung số máy xe và Giấy đăng ký xe bản chính để H7 làm thủ tục rút hồ sơ gốc. S2 đã hướng dẫn lại toàn bộ nội dung này cho H1, sau đó H1 truyền đạt toàn bộ nội dung này cho H6 để thực hiện. Trong ngày 06/8/2023, H1 đã gửi zalo cho S2 hình ảnh căn cước công dân của người bán là Nguyễn Thị Ngọc Á1 và người mua là Trịnh Công H6, kèm chữ ký của Trịnh Công H6 để S2 gửi cho H7. Ngày 07/8/2023, H6 đã gửi xe ôm mang biển kiểm soát xe máy 21K1-612.22, bản cà số khung số máy (Số khung: RLHKF4216NY108183; Số máy: KF42E1084810) và Giấy đăng ký xe bản chính mang tên Nguyễn Thị Ngọc Á1 đến cửa hàng xe máy của S2, địa chỉ tại số B H, C, Bắc Từ L3 để đưa cho S2. Sau đó, H7 đã đến cửa hàng xe máy của S2 để nhận trực tiếp. Trong ngày 07/8/2023, Ngô Thị Thu H7 đã liên hệ với ông Trần Đăng K1 (sinh năm 1950, HKTT: T, Y, Ý, Nam Định; nơi ở: số nhà F, ngõ B Cầu G, phường Q, Cầu G, Hà Nội) để làm hợp đồng công chứng mua bán xe máy trên. H7 đã gửi qua zalo cho ông K1 hình ảnh chụp căn cước công dân của người bán là Nguyễn Thị Ngọc Á1 và người mua là Trịnh Công H6 và ảnh đăng ký xe máy 21K1-612.22 qua zalo cho ông K1 để ông K1 làm hợp đồng công chứng. Sau khi nhận thông tin từ H7, ông K1 đã liên hệ với ông Vũ Tiến T3 (sinh năm 1950; HKTT: Phòng 307, B, Thành Công 2, L, Đ, Hà Nội) là trưởng Văn phòng C (địa chỉ: khu X, thị trấn X, huyện C, Hà Nội) để công chứng hợp đồng. Ngày 07/8/2023, ông K1 tự đánh máy hợp đồng mua bán xe máy Honda SH 150i, màu trắng, biển kiểm soát: 21K1-612.22, Số khung: RLHKF4216NY108183; Số máy: KF42E1084810 giữa người bán xe máy là Bùi Thị Ngọc Á (sinh năm 2002, HKTT: Khe Sừng, T, V, Yên Bái) và người mua là Trịnh Công H6 (sinh năm 1997, HKTT:Xóm C, Y, Ý, Nam Định) rồi mang lên văn phòng công chứng tại thị trấn X cho ông T3 xem, ông T3 xem thấy đầy đủ thông tin thì đưa lại cho ông K1 mang về cho người bán và người mua ký. Ngày 08/8/2023, Ngô Thị Thu H7 đến nhà ông K1 tại số nhà F, ngõ B Cầu G, phường Q, Cầu G, Hà Nội để lấy hợp đồng mua bán xe cho bên mua và bên bán ký. Sau đó, do có tâm lý nhằm giảm bớt việc đi lại cho bên mua và bên bán, H7 đã mang hợp đồng này ra khu vực chợ X nhờ một người đàn ông không quen biết ký hộ bên bán xe là Bùi Thị Ngọc Á và bên mua xe là Trịnh Công H6 rồi quay lại đưa hợp đồng cho ông K1. Chiều ngày 08/8/2023, ông K1 mang bản hợp đồng mua bán xe máy đến văn phòng công chứng Vũ Tiến T3 đưa cho ông T3 xem, ông T3 thấy đầy đủ chữ ký của bên mua và bên bán nên đã vào sổ lấy số hợp đồng công chứng là 37387.2 đề ngày 08/8/2023, sau đó ký, đóng dấu vào 02 bản, văn phòng lưu 01 bản và đưa cho ông K1 01 bản mang về. Đến ngày 09/8/2023, ông K1 bảo H7 đến nhà ông K1 để lấy bản hợp đồng đã công chứng, sau đó H7 gửi bản hợp đồng này kèm đăng ký xe, biển kiểm soát xe, bản cà số khung số máy cho chị Lương Thị A ở tỉnh Yên Bái để nhờ rút hồ sơ gốc tại đội Cảnh sát giao thông Công an huyện V, Yên Bái nhưng chưa nhận được hồ sơ.
Ngày 04/08/2023, Công an quận N ra Lệnh bắt khẩn cấp đối với Phan Thành N về hành vi Cướp giật tài sản quy định tại khoản 3 Điều 171 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra, N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 chiếc xe máy Honda SH 150i, màu trắng, số khung: RLHKF4216NY108183, số máy: KF42E1084810 (thu giữ của anh Trịnh Công H6).
- - 01 chiếc xe máy Honda SH màu đỏ BKS: 29F1- 492.97, số khung: 2519KY007716, số máy KF26E009158; 01 giấy đăng ký xe mô tô bản chính số 030624; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn B (thu giữ của ông Nguyễn Văn M).
- - 01 xe máy Honda SH 125i ABS màu trắng-bạc-đen, BKS: 29L5-353.34, số khung: 7317KY002607; số máy: JF74E0043923, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 041269 của xe mô tô BKS: 29L5-353.34 (thu giữ của ông Đỗ Thanh N1).
- - 01 CCCD mang tên Đào Mạnh T1 (thu giữ của anh Lâm Khánh T2).
- - 01 ví giả da màu đen, kích thước (10x20) cm (thu giữ của chị Lê Thị Thùy L4).
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Remi Note 12 màu đen, có lắp sim, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narro 30A màu đen, có lắp sim (thu giữ của Phan Thành N).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 180/22.08.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận N, xác định: 01 xe máy Honda SH dung tích 153 ABS, BKS: 29F1-492.97 trị giá 66.000.000 đồng; 01 xe máy Honda SH 125i ABS màu trắng-bạc-đen, BKS: 29L5-353.34 trị giá 49.500.000 đồng; 01 xe máy Honda SH 150i CBS màu trắng BKS: 29T2-122.83 là 85.000.000 đồng; 01 xe máy Honda SH 150i ABS, màu trắng, biển kiểm soát: 21K1-612.22 trị giá 93.500.000đ.
Tổng trị giá tài sản mà Phan Thành N chiếm đoạt là: 294.000.000 đồng.
Ngày 28/8/2023, Công an huyện V, Yên Bái đã bàn giao 01 bản hợp đồng mua bán xe máy, số công chứng 373872, quyển số 2/2023 TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C đề ngày 08/8/2023 đối với xe máy Honda SH 150i, màu trắng, biển kiểm soát: 21K1-612.22; kèm 01 giấy đăng ký xe (bản chính), 01 biển kiểm soát xe, 01 bản cà số khung 01 bản cà số máy của xe máy cho cơ quan CSĐT Công an quận N để xử lý theo quy định.
Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu và trưng cầu giám định số khung số máy của các xe máy nhãn hiệu Honda SH đeo biển kiểm soát 29L5-353.34, xe máy Honda SH 150i, màu trắng số khung: RLHKF4216NY108183, số máy: KF42E1084810; xe máy Honda SH màu đỏ BKS: 29F1- 492.97 xác định số khung số máy của các xe trên là nguyên thủy và không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Ngày 20/9/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám đối với căn cước công dân mang tên Vũ Văn B. Tại bản Kết luận giám định số 6969 ngày 20/10/2023 của V1 - Bộ C1 kết luận: căn cước công dân mang tên Vũ Văn B là thật.
Ngày 09/11/2023, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định tài liệu đối với bản hợp đồng mua bán xe máy Honda SH 150i, màu trắng, biển kiểm soát: 21K1-612.22. Tại Bản kết luận giám định số: 8262/KL-KTHS ngày 04/12/2023 của V1 Bộ C1, xác định:
- - Chữ ký đứng tên Bùi Thị Ngọc Á tại lề dưới trang 2; dưới mục “BÊN BÁN” trang 3 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Bùi Thị Ngọc Á trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một người ký ra.
- - Chữ ký đứng tên Trịnh Công H6 tại lề dưới trang 2; dưới mục “BÊN MUA” trang 3 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Trịnh Công H6 trên mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải do cùng một người viết ra.
- -Chữ ký thứ 2 tính từ trái sang phải tại lề dưới trang 2, chữ ký tại lề dưới trang 3 và chữ ký đứng tên Vũ Tiến T3 tại trang 4 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Vũ Tiến T3 trên mẫu so sánh ký hiệu M2 do cùng một người ký ra.
- - Hình dấu tròn có nội dung “VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG VŨ TIẾN TRÍ”tại trang 4 và hình dấu giáp lai tại các trang từ 1 đến 4 trên mẫu cần giám định ký hiệu A là hình dấu đóng trực tiếp, so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu từ M4 đến M8 do cùng một con dấu đóng ra.
Quá trình điều tra, do các vụ án ngày 03/7/2023, ngày 08/7/2023, ngày 11/07/2023 xảy ra tại địa bàn quận T, H nên cơ quan điều tra công an quận N đã tiến hành trao đổi với cơ quan điều tra Công an quận T, công an quận H về thẩm quyền giải quyết vụ án. Kết quả Cơ quan CSĐT công an quận T và công an quận H đề nghị Cơ quan CSĐT công an quận N giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với căn cước công dân mang tên Vũ Văn B là căn cước công dân thật. Tại cơ quan điều tra, anh B khai bị rơi mất căn cước công dân khoảng cuối năm 2022, tại khu vực T, quận T, Hà Nội nên ngày 22/02/2024, cơ quan điều tra tiến hành trao trả căn cước công dân mang tên Vũ Văn B cho anh B, anh B không có yêu gì về dân sự.
Đối với hành vi của Phan Thành N sử dụng tiền để chơi game “SUN” trên điện thoại, do N liên tục thay đổi mật khẩu nên không nhớ mật khẩu hiện dùng để truy cập nên Cơ quan điều tra không làm rõ được nội dung chơi game “SUN” của N nên không xem xét xử lý.
Đối với Vũ Tiến T3 là công chứng viên, trưởng Văn phòng C, đã có hành vi công chứng hợp đồng mua bán xe máy Honda SH 150i, màu trắng, biển kiểm soát: 21K1-612.22 khi không kiểm tra đối chiếu bản chính của giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng và không chứng kiến việc người yêu cầu công chứng ký vào hợp đồng, đã vi phạm quy định điểm c khoản 3, Điều 15, Mục 3, Chương II, Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định: “Công chứng khi không kiểm tra, đối chiếu bản chính giấy tờ trong hồ sơ công chứng theo quy định trước khi ghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch” và vi phạm quy định tại điểm đ khoản 3, Điều 15, Mục 3, Chương II, Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định: “Không chứng kiến việc người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch ký hoặc điểm chỉ vào hợp đồng, giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Và hành vi của Ngô Thị Thu H7 nhờ người khác ký giả chữ ký của người yêu cầu công chứng là Bùi Thị Ngọc Á và người liên quan là Trịnh Công H6, đã vi phạm điểm a, khoản 3 Điều 12, Mục 3, Chương II, Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 quy định: “giả mạo chữ ký của người yêu cầu công chứng”. Ngày 14/01/2024, Cơ quan điều tra có văn bản số 124 chuyển hồ sơ, tài liệu đến Sở Tư Pháp Hà Nội để lập hồ sơ xử lý. Ngày 01/03/2024, Sở Tư pháp có văn bản phúc đáp gửi Công an quận N đề nghị chuyển tài liệu vi phạm của Ngô Thu H7 đến UBND thành phố H xử phạt theo quy định pháp luật.
Ngày 29/02/2024, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ông Vũ Tiến T3 về các hành vi vi phạm tại điểm c, đ khoản 3 Điều 15 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/07/2020, mức phạt 17.000.000 đồng và có văn bản đề nghị Công an quận N chuyển hồ sơ đến UBND thành phố H để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với ông Nguyễn Văn M, anh Trần Văn K2, anh Lâm Khánh T2 do khi nhận cầm cố, ký gửi xe máy của N không biết nguồn gốc xe do N phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với cửa hàng cầm đồ số A T, T, T, Hà Nội, ngày 03/7/2023 và ngày 08/7/2023 nhận cầm cố 02 chiếc xe máy của Phan Thành N nhưng không chính chủ và không có giấy ủy quyền hợp lệ của chủ xe. Ngày 23/01/2023, Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 177 đối với ông Nguyễn Trung T4 (sinh năm 1972, HKTT: xóm C, H, H, Nam Định, là người đại diện hợp pháp của cửa hàng) về hành vi “nhận cầm cố tài sản của người khác thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy uỷ quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”, theo điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/NĐ-CP của Chính phủ, mức phạt tiền 5.000.000₫.
Đối với cửa hàng cầm đồ số 22, Lê Thanh N2, Cầu D, H, Hà Nội. Ngày 11/7/2023, đã cầm cố chiếc xe máy 29 T2-122.83 của Phan Thành N có lập sổ quản lý hoạt động cầm đồ theo quy định nhưng không ghi thông tin người cầm cố xe và thông tin người mua xe. Ngày 23/01/2023, Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 178 đối với bà Lương Thị Hồng L5 (sinh năm 1958, HKTT: Số A, ngõ B, phố L, Cầu D, H, Hà Nội, chủ cửa hàng) về hành vi “lập sổ quản lý, lưu trữ số liệu, tình hình hoạt động kinh doanh không đầy đủ theo quy định của Bộ Cl” theo điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định 144/NĐ-CP của Chính phủ, mức phạt tiền 1.500.000đ.
Đối với xe máy Honda SH 150i màu trắng BKS 21K2-612.22 qua xác minh xác định chủ sở hữu là chị Bùi Thị Ngọc Á. Nên ngày 14/9/2023, cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả xe máy trên cho chị Á, chị Á không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự và có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho Phan Thành N.
Đối với xe máy Honda SH màu đỏ BKS: 29F1-492.97 qua xác minh xác định chủ sở hữu là anh Ngô Hoàng L1 (SN 1994, số A, ngõ E T, Q, T, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra anh L1 khai: anh mua xe máy trên vào tháng 5/2019 sử dụng đến ngày 28/4/2023 anh đã bán xe máy cho chị Nguyễn Thị Thùy L với giá 70.000.000 đồng, hai bên có viết giấy mua bán với nhau nên ngày 16/09/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả xe máy Honda SH màu đỏ BKS: 29F1-492.97 cho chị L, chị L không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phan Thành N.
Đối với xe máy Honda SH màu trắng đen bạc số khung: 7317KY002607; số máy: JF74E0043923, qua xác minh xác định chủ sở hữu là chị Vũ Thị Diệu H3 (SN 1983, HKTT: S4, Goldmark city, số A Hồ T, P, B, Hà Nội). Ngày 07/07/2023, chị H3 bán xe máy trên cho anh Nguyễn Văn Q (SN 1994, HKTT: số A, ngách C, ngõ I, tổ B, phường P, H, Hà Nội) nên ngày 13/9/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả xe máy trên cho anh H2, anh H2 và anh Q không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho N.
Về dân sự:
Gia đình Phan Thành N đã khắc phục trả số tiền 25.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn M, ông M yêu cầu bồi thường nốt số tiền còn lại (tương đương trị giá xe máy BKS 29F1-492.97) là 41.000.000 đồng.
Gia đình Phan Thành N đã khắc phục trả số tiền 25.000.000 đồng cho ông M. Ông Đỗ Thanh N1 đã được ông M bồi thường 25.000.000 đồng nên ông đề nghị ông M khắc phục số tiền 30.000.000 đồng mà ông N1 đã bỏ ra để mua xe máy BKS 29L5-353.34. Ông M đề nghị Phan Thành N phải bồi thường nốt số tiền còn lại mà ông M đã bỏ ra để cầm cố 02 xe máy của N là 50.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, N khai đã bán xe máy Honda SH 150i màu trắng BKS 21K2-612.22 cho anh Trần Mạnh H1 với giá 75.500.000 đồng còn anh H1 khai mua xe của N với giá 85.000.000 đồng trong đó có 10.000.000 đồng tiền mặt và 75.500.000 đồng chuyển khoản nên Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai như trên. Quá trình điều tra thể hiện trong quá trình giao dịch mua bán giữa anh H1 và N có chị D, bạn của anh H1 làm chứng về việc N đã nhận 10.000.000 đồng tiền mặt của anh H1 và 75.500.000 đồng tiền chuyển khoản. Vì vậy đủ căn cứ kết luận N đã nhận số tiền 85.000.000 đồng tiền bán xe máy trên cho anh H1. Anh Trần Mạnh H1 đã bồi thường cho anh H6 số tiền 85.000.000 đồng tiền mua xe máy BKS 21K1-612.22. Gia đình Phan Thành N đã khắc phục trả số tiền 30.000.0000 đồng cho anh H1 nên anh H1 yêu cầu N phải bồi thường nốt số tiền còn lại là 55.000.000 đồng.
Gia đình Phan Thành N đã khắc phục trả số tiền 20.000.0000 đồng cho anh Đào Mạnh T1 là chủ sở hữu xe máy BKS 29T2-122.83 do không thu hồi được. Ngày 18/09/2023, cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả 01 căn cước công dân mang tên Đào Mạnh T1 cho anh T1, anh T1 yêu cầu N phải bồi thường số tiền còn lại (tương đương trị giá chiếc xe) là 65.000.0000 đồng.
Lời khai nhận tội của Phan Thành N phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với lời khai người của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 21/03/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Phan Thành N về tội “Cướp giật tài sản”, theo điểm a khoản 3 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 584, 586, 589 Bộ luật Dân sự đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thành Nhân t 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù.
Về dân sự: Các bị hại đã được bồi thường đầy đủ không có ý kiến gì. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người liên quan là ông Nguyễn Văn M số tiền còn lại 66.000.000 đồng. Ông N1 yêu cầu ông M bồi thường 30 triệu đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu xung công quỹ nhà nước:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Remi Note 12 màu đen, số Imei 1 là 865480069216081; có số Imei 2 là 865480069216099, có lắp sim, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narro 30A màu đen, số I mei 1 là 867606051365977; Số Imei 2 là 867606051365969, có lắp sim đã qua sử dụng, vỡ màn hình.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 ví giả da màu đen, kích thước (10x20) cm, đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 147 ngày 26/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận:
Do thất nghiệp và không có công ăn việc làm nên Phan Thành N đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua việc tạo ra nhiều tài khoản facbook ảo và sử dụng tài khoản ảo để đặt mua các xe máy trên mạng sau đó đến gặp người bán xe để xem xe và đề nghị được đi thử xe. Trong quá trình đi thử xe, N sẽ giả vờ làm rơi ví rồi nhờ chủ xe xuống xe nhặt hộ, trong lúc chủ xe đi nhặt ví thì N nhanh chóng chiếm đoạt phương tiện tẩu thoát. Bằng thủ đoạn trên, trong tháng 7/2023, Phan Thành N đã thực hiện 04 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn quận T, H và Nam Từ L2, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 15 ngày 03/07/2023, tại khu vực đầu ngõ D A, T, Hà Nội, Phan Thành N đã có hành vi cướp giật chiếc xe máy Honda SH 150 màu đỏ BKS: 29F1-492.97 trị giá 66.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thùy L. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, N mang xe máy đến cửa hàng cầm đồ sinh viên tại số A T, T, T, Hà Nội cầm cố cho ông Nguyễn Văn M được 66.000.000 đồng. Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Chị Nguyễn Thị Thùy L không yêu cầu bồi thường dân sự. Hậu quả đã được gia đình N đã bồi thường cho ông M số tiền 25.000.000 đồng. Ông M yêu cầu bồi thường 25.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 08/7/2023, tại khu vực B, phường P, H, Hà Nội, Phan Thành N đã có hành vi cướp giật chiếc xe máy Honda SH 125i ABS màu trắng-bạc-đen, BKS: 29L5-353.34 trị giá 49.500.000 đồng của anh Nguyễn Văn Q đang do anh Bùi Thế H2 quản lý, sau đó mang đến cửa hàng cầm đồ sinh viên tại số A T, T, T, Hà Nội cầm cố cho ông Nguyễn Văn M được 55.000.000 đồng. Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Anh H2 và anh Q không có yêu cầu về dân sự. Gia đình N đã bồi thường cho ông M số tiền 25.000.000 đồng, ông M yêu cầu bồi thường 25.000.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 12 giờ ngày 11/7/2023, tại khu vực phường X, T, Hà Nội, Phan Thành N đã có hành vi cướp giật chiếc xe máy Honda SH 150i CBS màu trắng BKS: 29T2-122.83 trị giá 85.000.000 đồng của anh Đào Mạnh Tuấn. Sau đó N mang đến cửa hàng cầm đồ sinh viên tại số B L cầm cố cho anh Lâm Khánh T2 được 80.000.000 đồng. Tài sản không thu hồi được. Gia đình bị cáo N đã bồi thường cho anh T1 số tiền 85.000.000 đồng, anh T1 không yêu cầu bồi thường dân sự.
Vụ thứ tư: Khoảng 13h30 ngày 18/7/2023, tại khu vực ngõ D đường M, phường M, N, Hà Nội, Phan Thành N đã có hành vi cướp giật chiếc xe máy Honda SH 150i ABS, màu trắng, BKS: 21K1-612.22 trị giá 93.500.000 đồng của chị Bùi Thị Ngọc Á. Sau khi chiếm đoạt tài sản, N mang xe đến cửa hàng ký gửi số C T, T, Hà Nội ký gửi xe cho anh Nguyễn Văn K, sau đó đăng lên mạng xã hội và bán xe cho anh Trần Mạnh H1 với số tiền 85.000.000 đồng. Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Chị Á không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Gia đình bị cáo N đã bồi thường cho anh H1 số tiền 85.000.000 đồng, anh H1 không yêu cầu bồi thường dân sự.
Tổng trị giá tài sản mà Phan Thành N chiếm đoạt 04 vụ là: 294.000.000 đồng.
Bị cáo khai nhận tội. Chị Bùi Thị Ngọc Á, anh Bùi Thế H2, chị Nguyễn Thị Thùy L, anh Trần Mạnh H1, anh Đào Mạnh Tuấn đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phan Thành N.
[3] Hành vi của bị cáo Phan Thành N đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 171 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị cáo đã bồi thường một phần lớn thiệt hại cho bị hại và người liên quan. Bị hại và người liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo chưa có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và bồi thường đầy đủ không có yêu cầu gì thêm. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M số tiền còn lại là 66.000.000 đồng.
Ông Lê Thanh N2 có đơn đề nghị không yêu cầu ông M phải có trách nhiệm trả số tiền 30.000.000 đồng. Nên không xem xét trong vụ án và đưa ông N2 tham gia tố tụng vụ án này.
[7]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
Tịch thu xung công quỹ nhà nước:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Remi Note 12 màu đen, số Imei 1 là 865480069216081; có số Imei 2 là 865480069216099, có lắp sim, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narro 30A màu đen, số I mei 1 là 867606051365977; Số Imei 2 là 867606051365969, có lắp sim đã qua sử dụng, vỡ màn hình.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 ví giả da màu đen, kích thước (10x20) cm, đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 147 ngày 26/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
[8]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 584, 586, 589 Bộ luật dân sự
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thành N phạm tội Cướp giật tài sản
Xử phạt bị cáo Phan Thành N 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/08/2023.
Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và bồi thường đầy đủ không có yêu cầu gì thêm. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M số tiền còn lại là 66.000.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
Tịch thu xung công quỹ nhà nước:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Remi Note 12 màu đen, số Imei 1 là 865480069216081; có số Imei 2 là 865480069216099, có lắp sim, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narro 30A màu đen, số I mei 1 là 867606051365977; Số Imei 2 là 867606051365969, có lắp sim đã qua sử dụng, vỡ màn hình.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 ví giả da màu đen, kích thước (10x20) cm, đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 147 ngày 26/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Mai Thị H |
Bản án số 108/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản (hình sự)
- Số bản án: 108/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thành Nhân phạm tội Cướp giật tài sản
