|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/4/2024 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Hoàng;
- Ông Trần Đức.
Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 513/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2023 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 70/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bạch T, sinh năm 1989 (có mặt)
HKTT: Ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.
Tạm trú: Ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0904.066.xxx hoặc 0909943604
- Bị đơn: Anh Lữ Văn T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0707.166.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo như tại phiên tòa và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Bạch T trình bày: Tôi với anh T1 chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 19/10/2011. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012 và Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015. Nhưng đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T1 thường xuyên nhậu nhẹt và có những hành vi bạo lực gia đình (đánh tôi thường xuyên), không lo cho kinh tế gia đình. Tôi đã cho anh T1 cơ hội rất nhiều lần nhưng anh T1 vẫn không thay đổi (trước đây tôi có khởi kiện đến Tòa án một lần rồi nhưng thấy anh T1 năn nỉ hứa sửa đổi nên tôi chấp nhận rút đơn). Đầu tháng 10/2023, không chịu được nữa nên tôi dẫn 02 con bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Khi Tòa án hòa giải lần đầu tôi cũng đã cho anh T1 cơ hội 03 tháng để hàn gắn nhưng không được dù anh T1 có nhiều sửa đổi tích cực (không say xỉn hay vũ phu nữa) vì tôi vẫn cảm thấy tổn thương và không thể tha thứ cho anh T1 được.
Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Lữ Văn T1. Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012 và Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015 (hiện đang sống với mẹ). Tại đơn khởi kiện tôi yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Tuy nhiên, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay tôi đồng ý giao con chung tên Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012 cho anh T1 nuôi dưỡng, tôi yêu cầu được nuôi con chung tên Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015, không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung: Không có.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Anh Lữ Văn T1 trình bày: Anh T1 thống nhất hoàn toàn với lời trình bày của chị T về quá trình chung sống, con chung và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Anh T1 tự nhận thấy hành vi đánh vợ của mình là sai và cam kết sẽ sửa đổi, yêu thương vợ con, cố gắng làm việc phụ giúp vợ nuôi con. Dù Tòa án đã tạo cơ hội nhiều lần để anh hàn gắn với vợ và bản thân anh cũng đã cố gắng hết sức, không rượu chè, không tụ tập bạn bè, cố gắng chăm lo cho vợ con nhưng chị T vẫn không tha thứ cho anh. Tại các phiên hòa giải, anh T1 vẫn mong muốn hàn gắn với chị T nên không đồng ý ly hôn. Về quan hệ con chung: Nếu có ly hôn anh T1 yêu cầu được nuôi con chung tên Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012, đồng ý giao con chung tên Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lê Thị Bạch T có mặt, bị đơn anh Lữ Văn T1 vắng mặt không lý do.
Nguyên vọng của con chung: Tại biên bản Ghi nhận ý kiến của người chưa thành niên cháu Lữ Đức H và cháu Lữ Đăng K và đều có nguyện vọng được sống với mẹ.
2
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị T, anh T1 tại biên bản lấy lời khai ngày 01/02/2024 của người làm chứng bà Nguyễn Thị M (mẹ ruột của chị T) thể hiện: “………Thưa tôi thấy anh T1 và chị T thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 02 con chung là Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012 và Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015. Năm 2016, tôi thấy con gái và con rể có cự cãi với nhau rồi đến tháng 10/2023 T mới dẫn theo cháu H và cháu K về nhà mẹ ruột là tôi sống chung đến nay. Hiện nay cháu H học trường THCS A, cháu Khoa học trường tiểu học B, thường ngày đi học ông ngoại đưa hai cháu đi học, bà ngoại ở nhà chăm sóc hai cháu, còn T thì đi làm công ty ở P. Nguyên nhân mâu thuẫn chính của anh T1 và chị T do anh T1 thường hay ăn nhậu về đánh con tôi. Nhiều lần tôi thấy T bầm mặt và tay chân, nhưng tôi nói con không báo chính quyền địa phương do cũng là chuyện gia đình nên giải quyết êm ấm. Nhưng đã nhiều lần hàn gắn không được, con tôi cũng đã nộp đơn ly hôn ra tòa 01 lần nhưng rút đơn do anh T1 năn nỉ, nhưng sau đó anh T1 lại không thay đổi. Vì vậy xin Tòa cho chị T và anh T1 ly hôn...”.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh T1. Về quan hệ con chung: Giao con chung tên Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012 cho anh T1 được trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung tên Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi; chị T, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Chị T yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:
3
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn anh Lữ Văn T1 cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa hôm nay anh T1 vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, kết quả xác minh tình trạng hôn nhân và lời khai của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa có căn cứ xác định:
Chị Lê Thị Bạch T chung sống với anh Lữ Văn T1 từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 19/10/2011. Do vậy, căn cứ vào Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chị T, anh T1 chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn tin tưởng nhau và thường xuyên xảy ra va chạm, cự cãi, cụ thể: Anh T1 không lo cho kinh tế gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt và có những hành vi bạo lực gia đình bằng hành động (đánh chị T thường xuyên); Mâu thuẫn kéo dài mặc dù chị T đã cho anh T1 nhiều cơ hội sửa đổi (chị đã từng nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với anh T1 nhưng đã rút đơn ngay sau đó) nhưng không được, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc thể hiện bằng việc chị T đã dẫn 02 con về nhà mẹ ruột sống từ đầu tháng 10/2023, vợ chồng đã ly thân từ đó.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh T1 đều thừa nhận lỗi của mình và đã có những cố gắng để sửa đổi (chí thú làm ăn, không uống rượu và không có hành vi bạo lực gia đình với vợ nữa) mong muốn hàn gắn với vợ nên không đồng ý ly hôn với chị T, tuy nhiên tại phiên tòa anh T1 vắng mặt không lý do là từ bỏ mong muốn hàn gắn với chị T; Trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị T thừa nhận anh T1 đã sửa đổi nhưng chị cho rằng những tổn thương tâm lý anh T1 gây ra cho chị quá lớn nên chị không thể nào tha thứ cho anh T1 được nữa, nay chị kiên quyết xin ly hôn với anh T1 để mỗi người đều có cuộc sống mới.
Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh T1 và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nếu cho chung sống lại cũng không tạo được một gia đình hạnh phúc bền vững nên căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1.
[2.2] Về con chung: Chị T và anh T1 có hai (02) con chung là Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012 và Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015. Quá trình giải quyết vụ án cháu H và cháu K đều có nguyện vọng sống với mẹ và hiện tại hai con chung đều đang sống với mẹ. Tuy nhiên, bản thân chị T, anh T1 chỉ đủ điều kiện kinh tế nuôi dưỡng 01 con chung, bên cạnh đó tại phiên hòa giải chị T, anh T1 đã thống nhất giao con chung tên Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012 cho anh T1 được trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung tên Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012 cho anh T1 được trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung tên Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015 cho chị T
4
được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của cháu; Chị T, anh T1 phải tạo điều kiện cho nhau được quyền đến thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết chị T, anh T1 có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T, anh T1 không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về quan hệ tài sản:
[2.4.1] Về tài sản chung: Chị T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[2.4.2] Về nợ chung: Chị T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bạch T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bạch T được ly hôn với anh Lữ Văn T1.
- Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị Bạch T được tiếp tục nuôi con chung tên Lữ Đăng K, sinh ngày 24/3/2015; Anh Lữ Văn T1 được nuôi con chung tên Lữ Đức H, sinh ngày 11/4/2012.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của
5
con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị Bạch T và anh Lữ Văn T1 do các đương sự không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung:
- - Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Bạch T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- - Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Bạch T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Lê Thị Bạch T và anh Lữ Văn T1 phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Bạch T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0012229 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chị Lê Thị Bạch T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Anh Lữ Văn T1 không phải chịu án phí.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |
6
7
Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
