|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2023/HS - ST
Ngày: 22 - 12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn và ông Nguyễn Trường Ca.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Phú - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại Nhà văn hóa khu dân cư Bích Động - Tân Tiến, phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2023/TLST - HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 1979 tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư C1, phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Hoàng Thị C; tiền án, tiền sự:
Tiền án: 03 tiền án:
+ Bản án số 79/2017/HSST ngày 12/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh) xử phạt Nguyễn Văn D 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. D đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/6/2018, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 17/5/2018.
+ Bản án số 63/2019/HSST ngày 16/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn D 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. D đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2020, đã bồi thường xong về trách nhiệm dân sự ngày 11/02/2020, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 11/10/2019.
+ Bản án số 42/2021/HSST ngày 19/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn D 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. D đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2023, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 03/12/2021.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ - XPHC ngày 11/8/2014 của Công an phường Cộng Hòa, thị xã Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh) xử phạt Nguyễn Văn D về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” với hình thức phạt tiền 750.000 đồng, D đã chấp hành xong ngày 03/9/2014.
+ Bản án số 06 ngày 12/3/1999 của Tòa án nhân dân huyện Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh) xử phạt Nguyễn Văn D 12 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Bản án số 56 ngày 11/6/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn D 18 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. D đã được đặc xá ngày 30/4/2000, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm ngày 26/10/2002. Về trách nhiệm dân sự: Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh không có hồ sơ thi hành án, bị hại và gia đình bị hại không còn sinh sống tại địa phương nên không có căn cứ để chứng minh D chưa bồi thường đủ về trách nhiệm dân sự. Thời điểm phạm tội D 17 tuổi 06 tháng 25 ngày. Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự 2015 và nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, xác định D đã được xóa án tích đối với bản án hình sự phúc thẩm số 56 ngày 11/6/1999.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Đoàn Quang T, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà 393, khu dân cư T3, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 14/7/2023, Nguyễn Văn D (có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích) ngồi uống bia cùng với ông Đoàn Quang T tại khu vực đường Y, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sau đó ông T đi về nhà ở khu dân cư T3, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn D mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen, không rõ biển kiểm soát của một người bạn không rõ nhân thân, lý lịch đi đến nhà ông T chơi. Khi đến nơi, cửa nhà ông T vẫn mở, không thấy ai ở nhà, D đi vào phòng ngủ thì nhìn thấy 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F5Youth màu đồng, bên ngoài có gắn 01 ốp lưng điện thoại, bên trong gắn 01 sim điện thoại Viettel số 0365.927.xxx, đang trong tình trạng được sạc pin ở gần cửa phòng. Lúc này, D nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. D rút sạc pin điện thoại ra và lấy chiếc điện thoại đút vào túi quần bên trái, đi ra xe và để điện thoại trong cốp xe rồi đi xe về nhà cất giấu tại đầu giường ngủ của D. Đến ngày 20/7/2023, D biết anh T viết đơn trình báo công an nên D đã mang chiếc điện thoại trả lại cho anh T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 34/KLĐG ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Chí Linh kết luận: Tại thời điểm ngày 14/7/2023, 01 chiếc điện thoại OPPO F5Youth màu đồng, có số IMEI 8679940305773, đã qua sử dụng có giá trị là 1.000.000 đồng; 01 phôi sim điện thoại nhà mạng Viettel có giá là 10.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại làm bằng nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị là 10.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.020.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 95/CT- VKS - CL ngày 24/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên toà:
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với mình là đúng và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/9/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại và người làm chứng, biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 14/7/2023, tại nhà anh Đoàn Quang T ở khu dân cư T3, phường S, thành phố Chí Linh, Hải Dương, Nguyễn Văn D (có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích) có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F5Youth màu đồng, gắn ốp lưng làm bằng nhựa và bên trong được lắp 01 sim điện thoại Viettel số 0365.927.xxx với tổng giá trị là 1.020.000 đồng. Đến ngày 20/7/2023, D biết anh T viết đơn trình báo công an nên D đã mang chiếc điện thoại trả lại cho anh T.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi. Bị cáo có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà nay lại lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị là 1.020.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và nhiều lần bị kết án, hiện bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích đều về tội “trộm cắp tài sản”. Tuy vậy, bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà nay bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi bị phát hiện về hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả là mang tài sản trả lại cho bị hại, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng), quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã thực hiện để trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại vật chứng là 01 chiếc điện thoại OPPO F5Youth màu đồng, có số IMEI 8679940305773, bên trong lắp sim Viettel số 0365.927.xxx, bên ngoài có lắp 01 ốp lưng điện thoại làm bằng nhựa cho bị hại là phù hợp nên không đặt ra xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/9/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hậu |
Bản án số 108/2023/HS - ST ngày 22/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 108/2023/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Dương phạm tội trộm cắp tài sản
