Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HSST

Ngày 21/8/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Thanh;
  2. Ông Ninh Văn Trung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST - HS ngày 19/4/2024 đối với bị cáo:

Hứa Văn V, sinh năm 2003; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn L, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn S và bà Vi Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”.

  • * Bị hại chị Hoàng Thị N (đã chết).
  • * Đại diện hợp pháp cho bị hại:
    1. Ông Hoàng Văn K, sinh năm 1964 “có mặt”.
    2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966 “vắng mặt”.

    Cùng địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    1. Anh Đinh Văn L, sinh năm 1985 “có mặt”.

    Địa chỉ: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Đại diện theo uỷ quyền của ông K, bà Đ là anh Đinh Văn L, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang “có mặt”.

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Tô Văn P, sinh năm 2002 “có mặt”.

    Địa chỉ: Thôn V, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    1. Anh Hứa Văn S, sinh năm 1982 “có mặt”.

    Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    1. Anh Bế Văn D, sinh năm 1995 “vắng mặt”.

    Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi chiều ngày 08/3/2024, Hứa Văn V, sinh năm 2003, trú tại thôn L, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng anh Tô Văn P, sinh năm 2002, trú tại thôn V, xã G, huyện L ăn cơm, uống rượu tại nhà V đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Winner X, màu sơn đen - cam, biển kiểm soát 98B3-664.24 chở anh P đi từ xã G, huyện L xuống phòng trọ tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang theo đường Quốc lộ 31 hướng huyện L đi thành phố B, tỉnh Bắc Giang (do cả hai đang là công nhân tại thị xã V). Đến khoảng 18 giờ 03 phút cùng ngày, V điều khiển xe mô tô chở anh P đi đến Km27+430 đường Quốc lộ 31 thuộc địa phận thôn Ả, xã P, huyện L, do không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường nên xe mô tô do V điều khiển đã đâm vào chị Hoàng Thị N, sinh năm 1988, trú tại thôn Ả, xã P, huyện L đang đứng trên nắp cống thoát nước bên phải cùng chiều. Hậu quả: Hứa Văn V và anh P bị thương tích nhẹ, xe mô tô biển kiểm soát 98B3-664.24 bị hư hỏng; chị N bị thương được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện L, tỉnh Bắc Giang, sau đó được chuyển đến Bệnh viện H1, Hà Nội điều trị, đến ngày 13/4/2024 đã tử vong.

Cùng ngày 08/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường; kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

  • * Hiện trường nơi xảy ra tai nạn: Là đoạn đường thẳng, phẳng, mặt đường trải nhựa áp phan và có vạch kẻ đường đứt đoạn màu vàng phân chia thành hai phần đường, hai phần đường đều có vạch kẻ đứt đoạn màu trắng phân chia làn xe, lòng đường rộng 1.100cm. Lề đường bên phải hướng L - Bắc Giang có rãnh thoát nước và nắp rãnh rộng 85cm, có đường bê tông liên thôn rộng 350cm.
  • * Ghi nhận việc đánh số thứ tự: (1) Vết cày xước đứt đoạn; (2) Xe mô tô biển số 98B3-664.24; (3) Đám máu; (4) Vết mài trượt màu đen.
  • * Xác định điểm mốc và mép đường chuẩn:
    • - Lấy mép đường bên phải Quốc lộ C hướng huyện L đi thành phố B làm mép chuẩn.
    • - Lấy cột điện lưới, kí hiệu 103 (được sơn màu đỏ) ở lề đường bên phải hướng huyện L đi thành phố B làm mốc chuẩn.
  • * Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
  • - Vị trí ký hiệu số (1) là vết cày xước đứt đoạn, đầu vết nằm trên nắp cống thoát nước, cuối vết là để chân trước bên trái xe mô tô biển số 98B3-664.24, kích thước (1.180x0,5)cm. Đầu vết (1) cách mép chuẩn 70cm, cách mốc chuẩn 910cm. Cuối vết (1) cách mép chuẩn 195cm, cách mốc chuẩn 880cm.
  • Cách đầu vết (1) hướng Bắc Giang đi L 4230cm có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Biển báo cách mép đường chuẩn 210cm, đặt tại lề đường bên phải hướng L đi Bắc Giang.

  • - Vị trí ký hiệu số (2) là xe mô tô biển số 98B3-664.24 đổ nghiêng trái, đầu xe quay hướng mép chuẩn, đuôi xe chếch chéo phần nắp cống thoát nước hướng đi Bắc Giang. Trục trước cách mép chuẩn 200cm, cách mốc chuẩn 860cm. Trục bánh sau cách mép chuẩn 185cm, cách mốc chuẩn 950cm.
  • - Vị trí ký hiệu (3) là đám máu, kích thước (80x60)cm. T (3) cách mép chuẩn 205cm, cách mốc chuẩn 960cm, cách trục sau xe mô tô (2) 140cm, cách trục trước xe mô tô (2) 210cm.
  • - Vị trí ký hiệu số (4) là vết mài trượt màu đen trên nắp cống thoát nước, kích thước (30x30)cm. T (4) cách mép chuẩn 60cm, cách đầu vết (1) 30cm.
  • Xung quanh vị trí xe mô tô ký hiệu (2) có nhiều đồ dùng cá nhân, mảnh nhựa vỡ, đồ ăn bị rơi. T vị trí ký hiệu (4) đến vị trí chiếc dép nhựa màu đen thứ nhất 280cm, đến vị trí dép nhựa màu đen thứ hai 780cm.

  • * Phương tiện, dấu vết, mẫu vật thu được:
    • - Tạm giữ 01 chiếc xe ô tô biển số 98B3-664.24.
    • - Thu giữ mẫu máu tại vị trí kí hiệu số (3).

Cùng ngày 08/3/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L tiến hành đo nồng độ cồn đối với Hứa Văn V bằng máy đo số ID890809. Kết quả thu nồng độ cồn là 0,250 mg/L.

Tại giấy ra viện ngày 12/3/2024 của Bệnh viện H1 xác định: Chị Hoàng Thị N vào viện lúc 23 giờ 29 phút, ngày 08/3/2024, ra viện lúc 20 giờ 37 phút, ngày 12/3/2024. Chẩn đoán: Đa chấn thương: STSN máu tụ ĐMC, dập não b/c (T) G5đ, CTNK đụng dập phổi 2 bên, CTCS gãy gai ngang T3-4, vỡ L1, gãy xương đòn 2 bên, gãy xương quay (P), gãy xương chậu, gãy cẳng chân (T). Phương pháp điều trị: lấy máu tụ, bỏ nắp sọ giảm áp.

Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám nghiệm tử thi chị Hoàng Thị N. Kết quả:

  • * Khám bên ngoài:
    • - Trang phục và các vật mang theo: Tử thi ở trạng thái cởi trần, đóng bỉm màu xanh. Cẳng tay phải và chân trái được bó bột cố định, màu trắng.
    • - Chiều dài tử thi 162cm, thể tạng phát triển bình thường.
    • - Tình trạng tử thi: Đang trong giai đoạn mềm lạnh và cứng xác.
    • - Các dấu vết, tổn thương cơ thể:
      • + Vùng đầu: Tóc đen, cắt trọc; hai lỗ tai bám dính máu khô. Hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn to, bầm tím xung quanh hốc mắt hai bên. Hai lỗ mũi và khoang miệng có nhiều dịch màu nâu lẫn bọt trào ra.
      • + Mặt sau khuỷu tay phải và cánh tay phải có diện sây sát, bầm tím da kích thước (16x05)cm. Sưng nề, bầm tím mu bàn tay phải và cẳng tay phải, kích thước (25x12)cm.
      • + Thắt lưng và mông phải có diện mài sát da, kích thước (32x09)cm.
      • + Đùi phải, gối phải có diện mài sát bầm tím da, kích thước (31x13)cm. Đùi trái có nhiều vết sây sát da, bầm tím trên diện (19x12)cm. Sưng nề, bầm tím, biến dạng cẳng chân trái. Mặt trước ngoài cẳng chân trái sây sát da trên diện (18x14)cm.
      • + Sờ nắn thấy gãy phức tạp xương cẳng tay phải, 1/3 giữa xương cẳng chân trái.
      • + Vùng đầu có vết mổ hình cung ở vùng trán, đỉnh thái dương trái được khâu bằng 29 mũi chỉ dài 31cm.
      • + Vùng lưng có diện sây sát da đang giai đoạn đóng vảy, kích thước (42x18)cm.
      • + Vùng thái dương phải có diện sưng nề, sây sát da, bầm tím kích thước (07x06)cm. Sưng nề toàn bộ vùng đỉnh thái dương hai bên.
  • * Mổ tử thi:
    • - Kiểm tra vết mổ vùng đầu thấy: Bờ mép vết mổ phù nề còn chảy dịch, sờ nắn thấy diện khuyết xương hộp sọ tương ứng vị trí dưới vết mổ. Kiểm tra mảnh xương sọ do gia đình cung cấp có kích thước (14x9)cm.
    • - Chọc hút khoang lồng ngực có nhiều dịch màu nâu lẫn dịch bọt.
  • * Mẫu thu để giám định: Thu mẫu máu của tử thi Hoàng Thị N.

Ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 460/QĐ-CSĐT gửi Phòng K1 Công an tỉnh B giám định nguyên nhân chết của chị Hoàng Thị N. Tại Kết luận giám định tử thi số 798/KLGĐTT-KTHS, ngày 10/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B đã kết luận:

Nguyên nhân chết của Hoàng Thị N do đa chấn thương không hồi phục: Chấn thương sọ não, gãy xương cẳng tay phải và xương cẳng chân trái.

Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên. Tổn thương gãy xương cẳng tay, cẳng chân do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.

Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen - cam, biển số 98B3-664.24 bị hư hỏng như sau: Cụm đồng hồ bị bật theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống, có nhiều vết trầy xước, mặt đồng hồ bị vỡ. Tay phanh bên phải gãy, bật. Mặt trên hộp dầu tay phanh có vết trượt xước kim loại, kích thước (01x02)cm. Ốp nắp trước tay lái bị vỡ phức tạp, có nhiều vết trượt xước nhựa trên diện (15x20)cm, bám dính bụi đất. Ốp nắp sau tay lái bị vỡ, bật. Gương chiếu hậu bên trái: Mặt gương bị gãy, bật rời, có nhiều vết trượt xước bám dính bụi đất kích thước (11,5x6,5)cm; chân gương có vết trượt xước kim loại hướng từ trước ra sau, kích thước (07x02)cm. Đầu tay côn bên trái có vết trượt xước kim loại và sơn, kích thước (01x01)cm. Mặt nạ phía trước gãy vỡ, bật, có vết trượt xước giấy dán màu trắng, sơn màu cam và nhựa theo hướng từ trước ra sau, kích thước (40x08)cm. Nắp hộp để đồ gắn thêm tại vị trí baga trước bị gãy, bật rời, có vết trượt xước kích thước (19x09)cm. Cánh yếm bên trái bị gãy, bật rời, có nhiều vết trượt xước giấy dán màu trắng, sơn và nhựa, kích thước (50x20)cm. Cánh yếm bên phải bị gãy, bật, có vết trượt xước bám dính chất màu đen, kích thước (16x07)cm. Chắn bùn bánh trước có vết mài trượt xước nhựa trên diện (10x5,5)cm. Cần số bị cong vênh từ trước ra sau, có vết trượt xước cao su và kim loại kích thước (02x1,5)cm. Để chân trước bên trái bị trượt xước kim loại, kích thước (1,5x01)cm. Để chân sau bên trái bị cong vênh theo hướng từ trước ra sau, có vết trượt xước kim loại kích thước (01x0,5)cm. Cánh yếm bên trái có vết trượt xước giấy dán màu trắng, kích thước (10x02)cm. Cụm đèn trước hai bên có nhiều vết trượt xước mặt kính. Lốp bánh trước có các dấu vết trượt xước cao su màu đen tại mặt lăn của lốp.

Ngày 21/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định trưng cầu giám định số 467/QĐ-CSĐT, trưng cầu giám định chiều hướng, vị trí va chạm, cơ chế hình thành dấu vết và tốc độ của xe mô tô biển số 98B3-664.24. Tại Kết luận giám định số 889/KL-KTHS, ngày 21/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B đã kết luận: Dấu vết trượt cao su, bám dính màng màu xanh đen, hướng ngược chiều chuyển động tiến ở mặt lăn lốp bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98B3-664.24 phù hợp với dấu vết mài trượt, rách da và vải, hướng từ trái sang phải, từ trên xuống dưới ở bên trái viền đế, quai và gót của chiếc dép bàn chân bên trái do chị Hoàng Thị N mang theo tại thời điểm xảy ra tai nạn. Vị trí va chạm tại điểm đầu dấu vết mài trượt màu đen ký hiệu số 4. Dấu vết trượt xước sơn nhựa, chùn cong kim loại ở bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B3-664.24 gồm: Đầu ngoài tay côn, tay nắm, cánh yếm, ốp sườn, cần số, để chân trước, để chân sau được hình thành do quá trình xe mô tô đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 1. Căn cứ vào chiều hướng dấu vết trên phương tiện và hiện trường, xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 98B3-664.24 chuyển động theo hướng thị trấn C đi thành phố B. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 98B3-664.24 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.

Ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 460/QĐ-CSĐT gửi Phòng K1, Công an tỉnh B giám định mẫu máu thu tại hiện trường và mẫu máu thu tại tử thi của chị N. Tại Kết luận giám định số 778/KL-KTHS, ngày 09/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B đã kết luận: Mẫu máu của Hoàng Thị N được niêm phong, gửi giám định thuộc nhóm máu B. Trên mẫu được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “Mẫu thu tại vị trí số (3)” gửi giám định có máu người, nhóm máu B.

Ngày 26/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Yêu cầu định giá tài sản đối với thiệt hại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen - cam, biển kiểm soát 98B3-664.24. Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Tại thời điểm ngày 08/3/2024, các bộ phận của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen - cam, biển số 98B3-664.24 bị hư hỏng có giá trị là 7.240.000 đồng.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn nêu trên là do Hứa Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, màu sơn đen - cam, biển kiểm soát 98B3-664.24 trong tình trạng trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, tham gia giao thông, không làm chủ tốc độ, dẫn đến va chạm với chị Hoàng Thị N sinh năm 1988, trú tại thôn Ả, xã P, huyện L đang đứng ở nắp cống thoát nước bên phải chiều Lục N1 đi G.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen - cam, biển kiểm soát 98B3-664.24, ông S không có yêu cầu, đề nghị gì. Ngày 12/4/2024, Bị cáo Hứa Văn V cùng gia đình đã thoả thuận bồi thường cho gia đình chị Hoàng Thị N số tiền 250.000.000 đồng, anh Đinh Văn L là chồng của chị N đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền trên, đồng thời viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Hứa Văn V.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngan.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp bị hại không ý kiến gì với bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát; Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đại diện bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hứa Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và

điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí, xử lý vật chứng, quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội của các bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 03 phút ngày 08/3/2024, Hứa Văn V, sinh năm 2003, trú tại thôn L, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen-cam, biển số 98B3-664.24 chở anh Tô Văn P đi hướng xã G, huyện L đi thị xã V, tỉnh Bắc Giang trên Quốc lộ C đến Km27+430 đường Quốc lộ 31 thuộc địa phận thôn Ả, xã P, huyện L,, tỉnh Bắc Giang do không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường đã đâm vào chị Hoàng Thị N, sinh năm 1988, trú tại thôn Ả, xã P, huyện L đang đứng trên nắp cống thoát nước bên phải cùng chiều. Hậu quả làm Chị Hoàng Thị N tử vong; V và anh P bị thương tích nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng, thiệt hại 7.240.000 đồng. V là người có Giấy phép lái xe hạng A1, khi điều khiển xe gây tai nạn đã sử dụng rượu, trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,250 mg/L. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội đều đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân xẩy ra tai nạn cũng một phần do lỗi của bị hại; bị cáo hiện nay có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Xét mức hình phạt đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen - cam, biển kiểm soát 98B3-664.24. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành tra cứu chủ sở hữu, kết quả xác định chủ sở hữu là anh Bế Văn D sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tiến hành làm việc với anh D thì anh D xác định anh mua chiếc xe mô tô trên, đăng ký chính chủ ngày 22/7/2020, do không có nhu cầu sử dụng nên tháng 9 năm 2023 anh đã bán lại cho anh Hứa Văn S là bố của bị cáo Hứa Văn V vì vậy cần trả lại cho ông S 01 (một) chiếc xe mô tô trên; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 204069, biển số đăng ký 98B3-664.24;
  • - Trả lại cho bị cáo 01 (một) Căn cước công dân số [...], mang tên Hứa Văn V; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...], mang tên Hứa Văn V.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với thương tích của anh Tô Văn P bị sây sát nhẹ, anh P không yêu cầy đề nghị gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và có quyền kháng cáo theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Hứa Văn V 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Giao bị cáo cho UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Trả lại cho ông Hứa Văn S 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen - cam, biển kiểm soát 98B3-664.24, số khung 3706LY008472 (xe cũ, đã hư hỏng không còn nguyên vẹn); 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 204069, biển số đăng ký 98B3-664.24;
    • - Trả lại cho bị cáo Hứa Văn V 01 (một) Căn cước công dân số [...], mang tên Hứa Văn V; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...], mang tên Hứa Văn V.
  3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện LN;
  • - UBND xã Giáp Sơn, Lục Ngạn;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 108/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger