TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HSST Ngày:21/6/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng
Bà Bùi Thị Hoa
Bà Nguyễn Thị Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thị L; sinh ngày 02/10/1990 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông: Vũ Bá N, sinh năm: 1967 (chết); con bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1972; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Phạm Thiên T, sinh năm: 1987 (đã ly hôn); Con: có 03; tiền án; Ngày 08/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 236/2020/HSST ngày 08/7/2020. Hiện đang hoãn chấp hành án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 13/12/2023 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Hoàng Thị A, sinh năm: 1979 (vắng mặt)
Nơi cư trú: xóm V, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An.
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thị L: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1964 – Luật sư, thuộc Công ty L4 – Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5/2022, do khó mang thai nên chị Hoàng Thị A, sinh năm 1979, trú tại xóm V, xã L, huyện H, Nghệ An lên mạng xã hội Facebook tìm kiếm dịch vụ “mang thai hộ” thì biết Vũ Thị L. Để tiện liên lạc, chị A sử dụng tài khoản Zalo tên “Thành Đạt” đăng ký bằng số điện thoại 0856.585.xxx kết bạn với tài khoản Zalo tên “Thiên Bình” đăng ký bằng số điện thoại 0984.273.xxx của L. Qua trò chuyện ban đầu, L cho chị A biết mình chuyên môi giới việc mang thai hộ được cho nhiều người.
Đầu tháng 10/2022, chị A đặt vấn đề nhờ L tìm 01 người mang thaisinh cho cho vợ chồng chị A 01 người con traiphải cùng huyết thống với anh Nguyễn Thành T1 (là chồng của chị A). Tại thời điểm này, mặc dù biết mình đang trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt tù về tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” theo Bản án số 236/2020/HS-ST ngày 08/7/2020 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội nhưng do muốn có tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân nên L nảy sinh ý định lừa dối giúp được chị A có 01 người con trai cùng huyết thống với chồng của chị A bằng phương pháp IVF (thụ tinh trong ống nghiệm) với các bước: hiến trứng, tạo phôi, sàng lọc phôi, chuyển phôi vào người mang thai hộ và sinh con. Liễu dự trù kinh phí để hoàn thành 01 ca mang thai hộ khoảng 700.000.000đồng bao gồm các khoản tiền: bồi dưỡng cho người hiến trứng, tạo phôi, sàng lọc phôi, chuyển phôi, chăm nuôi hàng tháng đến khi sinh cho người mang thai hộ, tiền thuốc,... các khoản tiền sẽ thanh toán theo từng giai đoạn tiến hành vàđược L thông báo trước rồi chuyển tiền cho L1 tài khoản Ngân hàng. Tin tưởng L nói là thật nên chị A đồng ý và sử dụng 03 tài khoản Ngân hàng số 3608205110516 và 3608777765999 của Ngân hàng A5 đều mang tên Hoàng Thị A và tài khoản số 3608777717999 của Ngân hàng A5 mang tên Nguyễn Thị N2 (là mẹ của chị Hoàng Thị A)chuyển tiền cho L nhiều lần đến 03 tài khoản số 34518081995 của Ngân hàng V mang tên Vũ Thị L2(củaem gái của L); tài khoản số 0987612866 của Ngân hàng V1 mang tên Phạm Thiên T (là chồng của L đã lý hôn) và tài khoản số 9973057629 của Ngân hàng V2 mang tên Vũ Thị L, cụ thể như sau:
Ngày 05/10/2022, thông qua tin nhắn zalo, Vũ Thị L gửi 02 hình ảnh của chị Phạm Thị Mỹ H1, sinh năm 1997, trú tại phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai (là người quen của L từ trước) cho chịHoàng Thị A1 và nói dối đã tìm được người hiến trứng. L yêu cầuchị Al chuyển số tiền 35.000.000 đồng để bồi dưỡng cho người hiến trứng. Ngày 06/10/2022, chị A1 chuyển số tiền 35.000.000 đồng đến tài K mang tên Vũ Thị L2.
Ngày 07/10/2022, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A chuyển số tiền 20.000.000 đồng tiền làm hồ sơ mang thai hộ. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của L đến tài khoản đến tài khoản V mang tên Vũ Thị L2.
Sau khi nhận tiền, chị Vũ Thị L2 chuyển toàn bộ đến tài khoản của Ngân hàng V2 mang tên Vũ Thị L.
Các ngày 12, 13/10/2022,Vũ Thị L nói dối chị Hoàng Thị A đã khám cho người hiến trứng, kết quả được 18 nang và yêu cầu chuyểnchi phí tạo phôi với số tiền 80.000.000 đồng. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của Liễuđến tài khoản V1 mang tên Phạm Thiên T.
Ngày 14/10/2022, Vũ Thị L nói dối chị Hoàng Thị A là người hiến trứng hợp thuốc nên đã có 06 nang to. L yêu cầu chị A chuyển số tiền 60.000.000 đồng. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của L đến tài khoản V1 mang tên Phạm Thiên T.
Ngày 18/10/2022, Vũ Thị L nói dối chị Hoàng Thị A cầnsàng lọc tinh trùng để tỷ lệ sàng lọc phôi cao hơnvà yêu cầu chi phí là 21.300.000 đồng.Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của Liễuđến tài khoản V1 Phạm Thiên T.
Để tạo thêm niềm tin, Vũ Thị L hẹn gặp vợ chồng chị Hoàng Thị A ra thành phố Hà Nội lấy mẫutinh trùng của anh Nguyễn ThànhTrungđể s lọctạo phôi. Tin tưởng L nói là thật nên sáng ngày 19/10/2022,vợ chồng chị A đưa mẫu tinh trùng của anh T1 cho L. Ngay sau khi nhận, L3 vứt mẫu tinh trùng đi, không sử dụng như L nói và còn gửi hình ảnh của chị Phạm Thị Mỹ H1 là người hiến trứng đang đến khám tại Bệnh viện P qua Zalo cho chị A2 yêu cầu chị A chuyển số tiền11.000.000 đồng tiền nuôi phôi. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của L đến tài khoản V1 mang tên Phạm Thiên T. Khoảng 20 giờ cùng ngày, L nhắn tin cho chị A nói dối kết quả được21 nang trứng, tinh trùng đạt 43%, xác suất được 70%, 21 nang này phát triển tạo phôi.
Các ngày 20,21, 25 và 26/10/2022, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 146.000.000 đồng sàng lọc phôi.Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của L đến tài khoản V1 mang tên Phạm Thiên T.
Ngày 27/10/2022,Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 8.000.000 đồng thuốc tiêm cho người mang thai hộ. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của L đến tài khoản V1 mang tên Phạm Thiên T.
Ngày 30/10/2022 và05/11/2022, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 tổng số tiền 48.000.000 đồngđể nuôi phôi, trữ đông. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của L đến tài khoản V1 mang tên Phạm Thiên T.
Ngày 07/11/2022, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A chuyển số tiền 27.000.000 đồng để chi phí nuôi người mang thai hộ 03 tháng(mỗi tháng 9.000.000 đồng).Chị A đồng ý và chuyển tiền đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L 28.000.000 đồng(Chị A cho con của L 1.000.000 đồng để mua sữa uống).
Các ngày 11, 12/11/2022, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A chuyển số tiền 16.200.000 đồng để đưa phôi về Bệnh viện thành phố H.Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầuđến tài khoản Vietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 11/12/2022, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 10.800.000 đồngđể mua thuốc tiêm, thuốc đặt để chuyển phôi. Chị A đồng ý và chuyển tiềntheo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 24/12/2022, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 20.000.000 đồng tạm ứng cho người mang thai hộ. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 28, 29/12/2022, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A4 tiền 40.000.000 đồng chi phí cho người mang thai hộ. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 15/01/2023, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A số tiền 4.300.000 đồng tiền thuốc cho người mang thai hộ.Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 15/02/2023, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 1.000.000 đồng đểđưa người mang thai hộ đi khám.Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 21/02/2023, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 3.000.000 đồng để mua thuốc cho người mang thai hộ.Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 24/02/2023, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 20.000.000 đồngtạm ứng cho người mang thai hộ. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 19 và 21/08/2023, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 31.000.000 đồngtiền sinh và tiền làm hồ sơ sinh cho người mang thai hộ. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 27/08/2023 và ngày 01/09/2023,Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A3 số tiền 3.000.000 đồng để mua đồ cho đứa bé sắp sinh.Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Ngày 07/10/2023, Vũ Thị L yêu cầu chị Hoàng Thị A chuyển số tiền 13.000.000 đồng để làm hồ sơ sinh trong bệnh viện. Chị A đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu đến tài khoảnVietcombankmang tên Vũ Thị L.
Để tiếp tục tạo niềm tin cho chị A, L tiếp tục lừa người mang thai đã sinh con và gửi hình ảnh qua tin nhắn zalo cho chị A gồm bộ hồ sơ sinh con,03 hình ảnh của bé sơ sinh, giấy chứng sinh của cháu bé(những hình ảnh này L nhờ một người tên T2 không rõ lại lịch, địa chỉ gửi qua zalo cho L). Sau đó, L yêu cầu chị A chuyển tiếp số tiền 100.000.000 đồng để gửi cho người mang thai hộ thì L sẽ đưa cháu bé đi tiêm vắc xin và làm thủ tục ra viện, xét nghiệm AND. Tuy nhiên, vợ chồng chị A yêu cầu L phải cho gặp bé, tự làm xét nghiệm ADN nếu cháu bé cùng huyết thốngvới anh T1 thì mới nhận con và thanh toán hết số tiền còn lại. Ngày 19/10/2023, L gửi mẫu của móng tay, cuống rốn và tóc (các mẫu này do một người tên T2 không rõ lại lịch địa chỉ gửi cho L)đưa cho anh T1. Sau đó, anh T1 đưa các mẫu này đến Công ty Cổ phần D, địa chỉ B, đường T, quận T, thành phố Hà Nội để xét nghiệm, so sánh với ADN mẫu máu của anh T1, kết quả 02 mẫu ADN không có quan hệ huyết thống cha – con và nhắn tin thông báo kết quả xét nghiệm cho L. Biết rõ việc làm của mình lừa dối chiếm đoạt tiền của chị A nhưng L vẫn khẳng định đứa bé là con của anh T1. Sau đó, chị A và anh T1 nhiều lần liên lạc để yêu cầu Liễu trả lại tiền nhưng không liên lạc được.
Tổng số tiền Vũ Thị L chiếm đoạt của chị Hoàng Thị A là 618.600.000 đồng (sáu trăm mười tám triệu sáu trăm nghìn đồng).Sau khi nhận tiền, L không tiến hành nhờ người mang thai hộ cho vợ chồng chị A mà sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 12/12/2023, chị Hoàng Thị A làm đơn tố cáo hành vi của Vũ Thị L gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N.
Ngày 13/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Thị L.Trong quá trình điều tra,L đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mìnhnhư đã nêu.
* Về trách nhiệm dân sự:
Vũ Thị L tác động gia đình bồi thường cho chị Hoàng Thị A số tiền 650.000.000 đồng. Nay chị A không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số 97/VKS - P2 ngày 16 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Vũ Thị L về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự . Xử phạt bị cáo Vũ Thị L từ 09 ( chín ) năm tù đến 10 (mười ) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.Tổng hợp Bản án 15 tháng tù của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 2 bản án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị can và gia đình đã khắc phục đầy đủ số tiền cho bị hại. Bị hại không yêu cầu gì thêm về dân sự.
Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Thị L không tranh luận về tội danh, chứng cứ, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị vì bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại, gia đình bị cáo tích cực đóng góp trong phong trào phòng chống C và có nhiều đóng góp trong phong trào xây dựng nông thôn mới được UBND xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương xác nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức Viện kiểm sát đề nghị, đề nghị xử phạt bị cáo 7- 8 năm tù.
Bị cáo Vũ Thị L không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về nuôi con vì hiện nay các con đang phải gửi cho người thân nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa người bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị L hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định: Do cần tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân, biết chị Hoàng Thị A có nhu cầu mang thai hộ nên Vũ Thị L nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị A bằng các hnói dối bản thân Liễu chuyên môi giới việc mang thai hộ được cho nhiều người; cam kết giúp được cho vợ chồng chị A có 01 người con trai cùng huyết thống với chồng của chị A bằng phương pháp IVF (thụ tinh trong ống nghiệm) và đưa ra các bước tiến hành và dự trù chi phícủa 01 ca mang thai hộ. Sau đó vứt mẫu tinh trung của anh Nguyễn Thành T1 (là chồng của chị A); chụp lừa hình ảnh người mang thai hộ, trẻ sơ sinh và hồ sơ sinh con...Với thủ đoạn đó, từ ngày 05/10/2022đến ngày 07/10/2023, L đã chiếm đoạtcủa chị A tổng số tiền là 618.600.000 đồng (Sáu trăm mười tám triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau khi nhận tiền, L sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố để xét xử bị cáo theo điểm a khoản 4 điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất vụ án thấy rằng: Bị cáo Vũ Thị L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Nhưng bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối (nói dối về việc mang thai hộ) nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại 618.600.000đ. Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thị L là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm mình và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 08/7/2020, bị cáo Vũ Thị L bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 236/2020/HSST ngày 08/7/2020. Hiện đang hoãn chấp hành án. Nay bị cáo tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục đầy đủ số tiền cho bị hại. Tại phiên tòa bị cáo cung cấp thêm giấy xác nhận của Trưởng thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương xác nhận bị cáo trong thời gian sinh sống đã có nhiều đóng góp và hoạt động phong trào của thôn và phong trào phòng chống Covid. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo sớm trở về với gia đình để nuôi dưỡng các con và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị hiện không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã khắc phục đầy đủ số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại. Bị hại đã nhận đầy đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
[6] Về vật chứng:
- Đối với các tài liệu mà bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giao nộp gồm: sao lưu tin nhắn điện thoại, zalo, F và các sao kê tài khoản đã được lưu theo hồ sơ vụ án và có số bút lục. Do đó lưu theo hồ sơ vụ án.
- Quá trình điều tra thu giữ của Vũ Thị L 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu tím, số S: DFC3X1649V, bên trong chứa 01 sim số thuê bao 0856629999, điện thoại đã qua sử dụng. Xét thấy, chiếc điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V1 mang tên VU THI LIEU, số thẻ 4026 4900 0381 3305; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V1 mang tên PHAM THIEN THUAN, số thẻ 4026 4900 0381 3321;
01 (một) thẻ ATM Ngân hàng A5 mang tên VU THI LIEU, số thẻ 9704 0507 4125 7559.
[7] Đối với anh Phạm Thiên T, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương (là chồng cũ của Vũ Thị L đã ly hôn); chị Vũ Thị L2, sinh năm 1995, trú tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (là em gái của L). Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, L yêu cầu chị Hoàng Thị A chuyển tiền đến tài khoản mang tênanh T và chị L2 để L thực hiện hành vi chiếm đoạt. Cả hai người này không biết L thực hiện hành vi phạm tội nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với Phạm Thị Mỹ H1, sinh năm 1997, trú tại phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai là người Liễu gửi hình ảnh và nói dối với chị A là người hiến trứng...H1 không biết mục đích của L nói dối chị A về việc mang thai hộ để chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ đẻ xem xét.
Theo lời khai của Vũ Thị L: các hình ảnh hồ sơ, hình ảnh bé sơ sinh và các mẫu để xét nghiệm do người phụ nữ tên Thủy cung c cho L.Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Theo lời khai của Vũ Thị L và chị Phạm Thị Mỹ H2, sinh năm 1990, trú tại tổ D, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai: Khoảng tháng 5/2022, L môi giới cho H2 mang thai hộ 01 người nhưng không nhớ lai lịch địa chỉ người nhờ mang thai hộ. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 2, Điều 54, Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị L 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp 15 tháng tù tại Bản án số 236/2020/HSST ngày 08/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09(chín) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/12/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Vũ Thị L.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, màu tím, số S: DFC3X1649V, bên trong chứa 01 sim số thuê bao 0856629999, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị L.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V1 mang tên VU THI LIEU, số thẻ 4026 4900 0381 3305; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V1 mang tên PHAM THIEN THUAN, số thẻ 4026 4900 0381 3321;
01 (một) thẻ ATM Ngân hàng A5 mang tên VU THI LIEU, số thẻ 9704 0507 4125 7559.
Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự Căn cứ Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vũ Thị L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết hợp lệ Bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Minh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Hoàng Thị Hường | Nguyễn Thị Hải Minh |
Võ Duy Bảo |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Đăng Phồn | Trần Ngọc Sơn |
Nguyễn Hồ Cảnh | |
Trần Đình Đường | |
Nguyễn Văn Lý |
Bản án số 108/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 108/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
