|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 108/2025/DS-ST Ngày: 13 - 11 - 2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nghi
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Trần Thị Lệ
- 2. Bà Lê Thị Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Võ Tài Đức – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - An Giang: Không tham gia.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-DS, ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2025/QÐST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B
Địa chỉ: Tòa nhà H, D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Nay là Tòa nhà HM T, D N, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Lê Mỹ H, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Tổ F, ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Bùi Văn O:
- - Bùi Văn P, sinh năm 1972;
- Địa chỉ: Khu phố D, phường A, đặc khu P, tỉnh An Giang
- - Bùi Văn H1, sinh năm 1974;
- Địa chỉ: Khu phố D, phường A, đặc khu P, tỉnh An Giang
- - Bùi Văn T, sinh năm 1979;
- Địa chỉ: Ấp B, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- - Bùi Thị Mỹ P1, sinh năm 1982;
- Địa chỉ: Khu dân cư A, phường R, tỉnh An Giang.
- - Bùi Văn T1, sinh năm 1983;
- Địa chỉ: Tổ F, ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- - Bùi Thị Mỹ H2, sinh năm 1985;
- Địa chỉ: Tổ F, ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.
- - Bùi Văn T2, sinh năm 1996;
- Địa chỉ: Tổ F, ấp A, đặc khu K, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và bản tự khai ngày 11/04/2024 nguyên đơn Ngân hàng TMCP B trình bày: Ngày 15/01/2020, ông Bùi Văn O và bà Lê Mỹ H cùng Ngân hàng TMCP B đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: 0392000002400 ngày 15/01/2020 và Hợp đồng thế chấp số: 0392000002500 ngày 15/01/2020 như sau: Số tiền cho vay là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh nông nghiệp, thời hạn vay: 12 tháng, lãi suất vay: 10,5%/năm cố định trong 05 tháng, có hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 23/11/2022. Lãi suất của toàn bộ dư nợ vay phát sinh nêu trên sẽ do BV B1 quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng lần kể từ ngày 23/04/2022, với mức lãi suất bằng lãi cơ sở của BV B1 tại thời điểm điều chỉnh + Biên độ 2,99%/năm.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng ông Bùi Văn O và bà Lê Mỹ H đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng. Ngày 22/08/2022, ông Bùi Văn O chết, sau khi ông O chết những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông O vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng.
Nay nguyên đơn Ngân hàng TMCP B yêu cầu bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.597.333.756 đồng, trong đó: nợ gốc là 999.999.758 đồng, lãi là 597.333.998 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, bị đơn bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và Tòa án đã hoãn phiên tòa xét xử vụ án một lần vì lý do bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang.
[2] Nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B yêu cầu bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 phải thanh toán ngay số tiền nợ vay tính đến ngày 13/11/2025 tổng cộng là 1.597.333.756 đồng, trong đó: nợ gốc là 999.999.758 đồng, lãi là 597.333.998 đồng là có cơ sở chấp nhận bởi lẽ bà Lê Mỹ H và ông Bùi Văn O có ký Hợp đồng tín dụng số: 0392000002400 ngày 15/01/2020 và Hợp đồng thế chấp số: 0392000002500 ngày 15/01/2020. Trong Hợp đồng tín dụng số: 0392000002400 ngày 15/01/2020 số tiền vay là 1.000.000.000 đồng thì các bên thống nhất trả gốc, lãi 01 lần vào ngày cuối cùng của thời hạn vay là ngày 23/11/2022. Tuy nhiên, ngày 22/08/2022, ông Bùi Văn O chết, sau khi ông O chết những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông O vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng. Đến nay bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O chưa trả đủ tiền gốc, lãi cho Ngân hàng theo thời hạn nêu trên là vi phạm hợp đồng nên bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản nợ vay gốc, lãi còn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP B.
Tại phiên hòa giải ngày 16/9/2025 bị đơn bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 đều thừa nhận có vay và hiện còn nợ ngân hàng như trình bày của ngân hàng nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên xin ngân hàng cho trả nợ trong thời hạn 03 tháng, đại diện ngân hàng không đồng ý cho trả nợ trong thời hạn 03 tháng mà chỉ cho thời hạn 02 tháng nên không có căn cứ xem xét việc xin trả nợ trong thời hạn 03 tháng của bị đơn bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2.
Mặt khác, theo Điều 463 Bộ luật dân sự quy định:
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Khoản 1, khoản 5 Điều 466 quy định:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; ...”
“5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Như vậy, có đủ căn cứ để buộc bị đơn bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP B số tiền là 1.597.333.756 đồng, trong đó: nợ gốc là 999.999.758 đồng, lãi là 597.333.998 đồng.
[3] Ngày 15/01/2020 giữa Ngân hàng TMCP B với bà Lê Mỹ H và ông Bùi Văn O có ký Hợp đồng thế chấp số 0392000002500 ngày 15/01/2020, ông O và bà H dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BA 174759, số vào sổ cấp GCN CH00504, thửa đất số 11, tờ bản đồ số 18 địa chỉ thửa đất: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 08/03/2013 để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Nay bà H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng nên căn cứ Điều 299, Điều 323 Bộ luật dân sự cần tiếp tục duy trì tài sản bảo đảm này để đảm bảo quá trình thi hành án cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP B.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bà H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 299, Điều 323; Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn ấp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B.
- - Buộc bị đơn bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP B số tiền 1.597.333.756 đồng, trong đó: nợ gốc là 999.999.758 đồng, lãi là 597.333.998 đồng.
- - Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 13/11/2025 bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- - Khi bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 trả hết nợ gốc, lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP B phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BA174759, số vào sổ cấp GCN CH00504, thửa đất số 11, tờ bản đồ số 18 địa chỉ thửa đất: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 08/03/2013.
- - Nếu bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 0392000002500 ngày 15/01/2020 là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BA174759, số vào sổ cấp GCN CH00504, thửa đất số 11, tờ bản đồ số 18 địa chỉ thửa đất: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 08/03/2013. Nếu số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Lê Mỹ H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP B.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn bà Lê Mỹ H là người cao tuổi, nhưng không có đơn xin miễn án phí nên buộc bị đơn bà H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Bùi Văn O gồm Bùi Văn P, Bùi Văn H1, Bùi Văn T, Bùi Thị Mỹ P1, Bùi Văn T1, Bùi Thị Mỹ H2, Bùi Văn T2 phải liên đới chịu án phí dân sự có giá ngạch số tiền là 59.920.012 đồng.
- - Trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP B tiền tạm ứng đã nộp là 24.660.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008505 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Hải (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh An Giang).
-
Về quyền kháng cáo:
- - Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Nghi |
Bản án số 108/2025/DS-ST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 108/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH Bản Việt-Hạnh
