|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 108/2024/HSST Ngày 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Sơn
2. Ông Huỳnh Thiện Khiêm – Bí thư Huyện đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Hà Trung H; sinh ngày 05 tháng 12 năm 1988, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Đ (chết) và bà Trần Thị C; vợ, con chưa có; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: ngày 03/6/2004, bị Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định đưa vào trường G, thời hạn 24 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng và Trộm cắp tài sản”; ngày 17/9/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2010, nộp án phí và phạt bổ sung ngày 22/5/2009; ngày 15/4/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 11 (Mười một) năm tù, phạt bổ sung 7.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (hành vi phạm tội ngày 13/11/2010), chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2020, án phí ngày 12/7/2011 và phạt bổ sung ngày 16/4/2012; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-8-2024; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn S, sinh năm 1961; nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/8/2024, Hà Trung H đang ở nhà thì có người đàn ông tên anh H1 (không rõ lai lịch) mà H quen biết từ trước điện thoại thuê H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với tiền công 200.000 đồng/ 01 chuyến từ khu vực Công viên khu dân cư T đến khu vực đường G thuộc ấp T, xã L, huyện B, do cần tiền tiêu xài nên H đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Dream, biển số 70P1-7066 của ông Trần Văn S, sinh năm 1961, ngụ ấp T, xã L, huyện B, theo chỉ dẫn của người đàn ông đến khu vực Công viên khu dân cư T nhận 04 túi nylon màu đen, bên trong chứa 1.600 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm: 800 bao nhãn hiệu 555 và 800 bao nhãn hiệu Camfly, H chất lên xe và vận chuyển đi giao. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đi đến đoạn đường G thuộc ấp T, xã L, huyện B thì bị Công an huyện B bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số 1699/KL-KTHS ngày 29/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Xe môtô nhãn hiệu Dream, biển số 70P1-7066 có số khung bị cắt hàn, số máy không bị đục xóa.
Tại Bản cáo trạng số: 95/CT-VKS-BC ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo Hà Trung H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Trung H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Trung H từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/8/2024, có người đàn ông tên anh H1 (không rõ lai lịch) điện thoại thuê H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực Công viên khu dân cư T đến khu vực đường G thuộc ấp T, xã L, huyện B, tiền công 200.000 đồng/chuyến. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H điều khiển xe môtô nhãn hiệu Dream, biển số 70P1-7066 của ông Trần Văn S, đến khu vực Công viên khu dân cư T nhận 04 túi nylon màu đen, bên trong chứa 1.600 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm: 800 bao nhãn hiệu 555 và 800 bao nhãn hiệu Camfly, sau đó vận chuyển đến đoạn đường G thuộc ấp T, xã L, huyện B thì bị Công an huyện B bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Trung H đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế nhà nước; gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.3] Vật chứng: 1.600 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm (800 bao nhãn hiệu 555 và 800 bao nhãn hiệu Camfly); 04 túi nylon màu đen đã qua sử dụng; đây là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô biển số 70P1-7066 là của ông Trần Văn S cho bị cáo mượn dùng làm phương tiện phạm tội; (theo kết luận giám định số: 1699/KL-KHS ngày 29-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: số khung bị cắt hàn, số máy 1P50FMG10188913 không bị đục xóa), đây là tài sản không hợp pháp, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hà Trung H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hà Trung H 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20-8-2024.
-
Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 1.600 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm (800 bao nhãn hiệu 555 và 800 bao nhãn hiệu Camfly); 04 túi nylon màu đen đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 70P1-7066 (theo kết luận giám định số: 1699/KL-KHS ngày 29-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: số khung bị cắt hàn, số máy 1P50FMG10188913 không bị đục xóa).
- Về án phí: bị cáo Hà Trung H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Bản án số 108/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về vận chuyển hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 108/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HA TRUNG HIEU - VAN CHUYEN HANG CAM
