Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108/2025/HSST.

Ngày: 21/3/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cà Văn Danh.

2. Ông Lò Văn Chương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2025/TLST - HS ngày 18/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2025/QĐXXST - HS, ngày 07/03/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nạ Văn P, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1974, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Cống; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nạ Văn T, (đã chết) và bà: Nạ Thị S, (đã chết); Sống chung như vợ chồng với: Quàng Thị L, sinh năm: 1976; Bị cáo có 01 con sinh năm 2012. Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 đến nay "Có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 27/12/2024, bị cáo đi bộ từ nhà ở bản H, xã P, huyện Đ lên khu vực suối đầu bản Huổi Moi, xã P, huyện Đ mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) được 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua xong, bị cáo cất số ma túy vừa mua được túi quần bên trái đang mặc trên người đi bộ về nhà. Hồi 13 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang đi trên đường thuộc khu vực bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng P1 - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ chủ trì, phối hợp với Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ và công an xã P, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên trái bị cáo đang mặc 01 gói ni lon màu trắng bên trong chứa 0,38 gam Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 28/12/2024 đã xác định. Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Nạ Văn P có khối lượng là 0,38 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 33/KL-KTHS ngày 03/01/2025, Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nạ Văn P gửi giám định là Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,32 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKSHĐB ngày 17/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Nạ Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS, Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,32 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu trắng. Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo được miễn án phí HSST. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về nhà chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của bị cáo: Ngày 27/12/2024 bị cáo đi mua ma túy về sử dụng, khi bị cáo đang trên đường về thì bị bắt quả tang 01 gói Heroine có khối lượng 0,38 gam và 01 mảnh nilon màu trắng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội qua tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản lời khai, bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

[2]. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là trường hợp nghiêm trọng, nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Vật chứng: 0,38 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,32 gam) và 01 mảnh nilon màu trắng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS .

[6]. Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được là do bị cáo mua của người đàn ông dân tộc Thái, do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên CQĐT không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ được. Do vậy HĐXX không có cơ sở xem xét trong vụ án.

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[8]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nạ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nạ Văn P 01 (Một) năm 04 (B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 27/12/2024.
  3. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,38 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,32 gam) và 01 mảnh nilon màu trắng.

    (Vật chứng đã được công an huyện Đ chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 18/02/2025).

  4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333/BLTTHS; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Điện Biên;
  • - Công an tỉnh Điện Biên (PC04; PV06);
  • - Phân trại tạm giam khu vực tp ĐBP;
  • - Sở TP tỉnh Điện Biên;
  • - CCTHADS huyện Điện Biên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Lương.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 108/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 01 năm 04 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger