Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 108/2025/DS-PT  
Ngày 13 - 3 - 2025  
V/v tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế  

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Ông Dương Hùng Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 529/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 384/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 402/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Lê Thị T, sinh năm 1952; Địa chỉ cư trú: Số D, đường T, khóm F, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Ông Lê Văn N, sinh năm 1977; Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  3. Bà Lê Thị Hồng L, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: Số B, đường T, khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  4. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1955; Địa chỉ cư trú: Số A, đường T, khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Ông Phan Hoàng B, sinh năm 1959; Địa chỉ cư trú: Đường H, khóm F, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Thoàn A P1, sinh năm 1965; Địa chỉ cư trú: Đường T, khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông P1: Ông Lê Sơn T2, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú: Số B, đường P, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

  1. Bà Thoàn Thị Mỹ Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt).
  2. Bà Thoàn Thị Mỹ H, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Đường T, khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng L1 (vắng mặt).
  2. Anh Thoàn Minh V, sinh năm 1990 (vắng mặt).
  3. Chị Thoàn Thị N1, sinh năm 1997 (vắng mặt).
  4. Nguyễn Hồng P (vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Hoàng L2, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Đường T, khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Ông Thoàn A P1, bà Thoàn Thị Mỹ Đ, bà Thoàn Thị Mỹ H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Lê Thị T, Lê Thị T1, Lê Thị Hồng L, ông Lê Văn N và người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn là ông Phan Hoàng B trình bày:

Cụ Lê Thị K sinh năm 1917, mất năm 2008. Cụ K có chồng tên Lê Văn P2, sinh năm 1915, mất năm 1995. Cụ K và cụ P2 có tất cả 05 người con gồm: Lê Thị D (Lê Ngọc V1), Lê Văn E, Lê Thị T, Lê Thị T1, Lê Thị Á. Các nguyên đơn xác định hiện bà Lê Thị Á đã chết, còn 01 người con là Lê Thị Hồng L. Ông Lê Văn E đã chết, còn một người con là Lê Văn N. Bà Lê Thị D đã chết, bà D không có chồng con, chỉ có người con nuôi là ông Thoàn A P1.

Khoảng năm 1972, cụ K có khai phá phần đất diện tích 2.930m², theo thửa số 133, tờ bản đồ số 06. Cụ K kê khai đăng ký và đứng tên trên sổ mục kê địa chính năm 2005, đất tọa lạc tại khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Năm 2004, cụ K cùng bà D, bà T1 thống nhất cho T3 A Phúc một nền diện tích ngang 5m, dài 12m để cất nhà ở. Ngoài diện tích để cất nhà thì có sân ra tới lộ 3m, cho để ở không được sang bán vì đất của phụ ấm và có mồ mã của thân tộc. Việc cho đất này thể hiện tại Biên bản thỏa thuận lúc 15 giờ, ngày 22/3/2004 của Ủy ban nhân dân phường H3, thành phố C.

Đến ngày 20/06/2005, cụ Lê Thị K cùng các con gồm Lê Thị D, Lê Văn E, Lê Thị T, Lê Thị T1 thống nhất cho Lê Thị Hồng L một nền để cất nhà ở diện tích chiều ngang 7m, dài 25m, đất tại khóm F, phường H, thành phố C với điều kiện: Không được bán vì đất phụ ấm, thể hiện tại Giấy cho đất ngày 20/6/2005.

Trên phần đất này đã có các ngôi mộ là người thân của các nguyên đơn. Tuy nhiên, ông Thoàn A P1 đã xây hàng rào bao quanh khu mộ bằng thiết, không cho thân tộc vào thâm mộ.

Hiện nay, Thoàn A P1 cùng hai người con là Thoàn Thị Mỹ H và Thoàn Thị Mỹ Đ đã quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất của cụ Lê Thị K để lại có diện tích 2.930m² nói trên. Các bị đơn đã xây dựng 03 căn nhà trên đất gồm: nhà của ông Thoàn A P1, nhà của Thoàn Thị Mỹ H và nhà của Thoàn Thị Mỹ Đ. Đồng thời, các bị đơn quản lý, sử dụng luôn phần đất 2.930m² của bà Lê Thị K, trong đó có phần đất của bà Lê Thị Hồng L được bà Lê Thị K cho diện tích 175m².

Nay các nguyên đơn yêu cầu: Buộc các bị đơn ông Thoàn A P1, Thoàn Thị Mỹ Đ, Thoàn Thị Mỹ H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sống trên đất tháo dở, di dời tài sản, công trình trên đất (nhà gỗ, nhà thiết, hàng rào, cây trồng trên đất...) để trả lại đất cho các nguyên đơn (trừ lại phần được nhận thừa kế) phần đất tọa lạc tại khóm F, phường H, thành phố C, theo Trích đo hiện trạng ngày 23/01/2024 và ngày 27/9/2024 của Công ty TNHH P3. Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Lê Thị K để lại là phần đất tọa lạc tại khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau, qua đo đạc thực tế có diện tích là 2.771m² (trừ diện tích khu mộ 241.4m²), theo bản trích đo hiện trạng ngày 23/01/2024 và ngày 27/9/2024 của Công ty TNHH P3, thành 05 kỷ phần bằng nhau cho Lê Thị T, Lê Thị T1, Lê Thị Hồng L, Lê Văn N, Thoàn A. (Phần ông P1 và bà L được nhận thừa kế bao gồm luôn phần đã được cho cất nhà trước đây). Bà T, bà T1, ông N tự nguyện giao kỷ phần của mình lại cho bà Lê Thị Hồng L toàn quyền quản lý, sử dụng.

Các nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Ngọc V1. Lý do phần đất của bà V1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 3.430m², không phải là phần đang tranh chấp theo đo đạc thực tế.

Nguyên đơn thống nhất với T4 đo hiện trạng ngày 23/01/2024 và ngày 27/9/2024 của Công ty TNHH P3; thống nhất với chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH T5. Hiện trạng tài sản tranh chấp từ khi xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá đến nay không thay đổi.

- Bị đơn ông Thoàn A P1 và người đại diện theo ủy quyền của ông P1 là ông Lê Sơn T2 trình bày:

Trước năm 1975, mẹ nuôi ông Thoàn A P1 là bà Lê Ngọc V1 có khai phá được phần đất diện tích 3.430m², đất tọa lạc tại khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Năm 1995, ông P1 lập gia đình và sinh sống trên phần đất này cho đến nay. Trên phần đất cũng có căn nhà của Thoàn Thị Mỹ Đ và Thoàn Thị Mỹ H xây cất, sinh sống từ năm 2016 đến nay.

Năm 2021, bà V1 chết không để lại di chúc. Hiện phần đất trên (cũng là phần đất đang tranh chấp) do gia đình ông P1 quản lý, sử dụng. Năm 2022, ông P1 muốn đo đạc lại toàn bộ phần đất để làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T1 không tham dự để xác định ranh.

Phần đất mà bị đơn đang quản lý, sử dụng là của bà V1, nên bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu của các nguyên đơn về việc trả lại đất và chia thừa kế. Trường hợp Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn, thì ông Thoàn A P1 không từ chối nhận di sản mà yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Bị đơn bà Thoàn Thị Mỹ Đ trình bày:

Bà Thoàn Thị Mỹ Đ là bị đơn trong vụ án dân sự về việc chia thừa kế do bà Lê Thị T khởi kiện. Bà Đ là con của ông Thoàn A P1 và bà Nguyễn Thị Hồng L1.

Khoảng năm 2010, bà nội của bà Đ là bà Lê Ngọc V1 có cho bà Đ phần đất để cất nhà ở. Nguồn gốc phần đất là do bà V1 khai phá có được, diện tích 3.430m².

Đến năm 2016, bà Đ xây cất nhà ở ổn định cho đến nay. Do đó, bà Đ không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

- Bị đơn bà Thoàn Thị Mỹ H trình bày:

Bà Thoàn Thị Mỹ H là bị đơn trong vụ án dân sự về việc chia thừa kế do bà Lê Thị T khởi kiện. Bà H là con của ông Thoàn A P1 và bà Nguyễn Thị Hồng L1.

Khoảng năm 2010, bà nội của bà H là bà Lê Ngọc V1 có cho bà H phần đất để cất nhà ở. Nguồn gốc phần đất là do bà V1 khai phá có được, diện tích 3.430m².

Đến năm 2016, bà H xây cất nhà ở ổn định cho đến nay. Do đó, bà H không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng L2 trình bày:

Anh L2 là chồng của chị Thoàn Thị Mỹ Đ. Việc tranh chấp đất đai giữa các nguyên đơn và bị đơn thì anh L2 không ý kiến, yêu cầu gì.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 384/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau quyết định:

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Lê Thị T, Lê Thị T1, Lê Thị Hồng L, Lê Văn N về việc buộc các bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang sinh sống trên đất gồm ông P1, chị Đ, chị H, bà L1, anh V, chị N1, anh P, anh L2 có nghĩa vụ tháo dở, di dời tài sản trên đất (nhà gỗ, nhà sắt, hàng rào, cây trồng trên đất..) để trả lại đất cho các nguyên đơn (trừ lại phần được nhận thừa kế) phần đất tọa lạc tại khóm F, phường H, thành phố C, theo Bản trích đo hiện trạng của Công ty TNHH P3.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Lê Thị K để lại là phần đất tọa lạc tại khóm F, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau, qua đo đạc thực tế có diện tích là 2771m² (trừ diện tích khu mộ 241.4m²), theo bản trích đo hiện trạng ngày 23/01/2024 và ngày 27/9/2024 của Công ty TNHH P3, như sau:

Chia thừa kế là nhà, đất có diện tích 390.9m² có các điểm ký hiệu N1N2N3N4N5N6 cho ông Thoàn A P1 toàn quyền quản lý, sử dụng.

Chia thừa kế là phần đất còn lại có diện tích 2.138,7m² (2771m² - 390.9m² - 241.4m²) cho bà Lê Thị Hồng L toàn quyền quản lý, sử dụng.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Ngọc V1. Buộc ông Thoàn A P1 có nghĩa vụ hoàn lại giá trị căn nhà cho chị Thoàn Thị Mỹ Đ và Thoàn Thị Mỹ H theo chứng thư thẩm định giá của của Công ty TNHH T5.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xin điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 11/10/2024, ông Thoàn A P1, bà Thoàn Thị Mỹ Đ, bà Thoàn Thị Mỹ H có đơn kháng cáo: Yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo uỷ quyền của ông Thoàn A P1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Người đại diện theo uỷ quyền của ông T3 A P1 là ông Lê Sơn T2 tranh luận: Phần đất tranh chấp là do bà Lê Ngọc V1 khai phá trước năm 1975; bà V1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1993. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Thoàn A P1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm.

Người đại diện theo uỷ quyền của các đồng nguyên đơn, ông Phan Hoàng B tranh luận: Cụ K đứng tên sổ mục kê đất tranh chấp. Từ khi sử dụng đất có nộp thuế cho nhà nước. Năm 2004, cụ K có đứng ra cho đất ông Thoàn A P1 và sau đó có cho bà L một phần đất cất nhà nên có cơ sở xác định phần đất tranh chấp là của cụ K. Cụ K sống trên đất từ khi khai phá đến khi chết. Các nguyên đồng ý chia diện tích đất như án sơ thẩm nhưng yêu cầu chia cho bà L có phần đất mặt tiền để ở.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không xem xét kháng cáo của ông Thoàn A P1, bà Thoàn Thị Mỹ Đ, bà Thoàn Thị Mỹ H. Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Cà Mau giải quyết lại vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Thoàn A P1, bà Thoàn Thị Mỹ Đ, bà Thoàn Thị Mỹ H, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 2.117,3m² thuộc thửa 42, 48, 49 tờ bản đồ số 4 (Bản đồ chỉnh lý năm 2009). Nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Lê Thị K khai phá năm 1972; trong khi bị đơn trình bày do bà Lê Thị V2 khai phá trước năm 1975. Ngày 14 tháng 7 năm 1993, bà Lê Ngọc V1 được Ủy ban nhân dân thị xã C, tỉnh Minh Hải (nay là thành phố C, tỉnh Cà Mau) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất loại “Tấc đất tấc vàng” diện tích 3.430m² (Bút lục số 113). Tại Công văn số 758/UBND-TNMT ngày 17 tháng 02 năm 2025, Ủy ban nhân dân thành phố C xác nhận: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất “Tấc đất Tấc vàng” số 7367 G.C.N ĐÐ do UBND thị xã C cấp ngày 14/7/1993 cho bà Lê Ngọc V1 là một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho cá nhân đang sử dụng đất ổn định”. Như vậy, phần đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn thừa nhận: Cụ Lê Thị K và cụ Lê Văn P2 có 5 người con gồm: Bà Lê Thị D (đã chết) có 01 người con là ông Thoàn A P1; ông Lê Văn E (đã chết) có 4 người con là ông Lê Văn N, bà Lê Thị H1, bà Lê Thị H2, Lê Thị L3; bà Lê Thị T; bà Lê Thị T1; bà Lê Thị Á (đã chết) có 01 người con Lê Thị Hồng L. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không đưa bà Lê Thị H1, bà Lê Thị H2, bà Lê Thị L3 vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của những người trên, cấp phúc thẩm không khắc phục được. Tuy nhiên, Thẩm phán cấp sơ thẩm đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp những người người thuộc hàng thừa kế của cụ Lê Thị K và cụ Lê Văn P2 nhưng nguyên đơn không cung cấp nên đây là tình tiết mới phát sinh không có lỗi của cấp sơ thẩm.

[3] Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thừa nhận: Ngày 22 tháng 3 năm 2024, cụ Lê Thị K cùng các con cụ K là bà Lê Thị D, bà Lê Thị T1 thống nhất thoả thuận có sự chứng kiến của Tư pháp phường H và các ban ngành có liên quan cho ông T3 A Phúc phần đất cất nhà ngang 5m, dài 12m và phần sân ra lộ. Án sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 2.117,3m² là di sản thừa kế mà chưa trừ diện tích đất đã được cho ông T3 A Phúc là chưa phù hợp. Ngoài ra, cần làm rõ ngày 20 tháng 6 năm 2005, cụ K cùng các con cụ K cho bà Lê Thị Hồng L phần đất ngang 7m, dài 25m có nằm trong phần đất di sản thừa kế không. Do đó, cần huỷ án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét kháng cáo của ông Thoàn A P1, bà Thoàn Thị Mỹ Đ, bà Thoàn Thị Mỹ H. Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[5] Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và tạm ứng chi phí tố tụng được xử lý khi giải quyết lại vụ án.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thoàn A P1, bà Thoàn Thị Mỹ Đ, bà Thoàn Thị Mỹ H không phải chịu. Ông P1, bà Đ, bà H mỗi người có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được nhận lại.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không xem xét kháng cáo của ông Thoàn A P1, bà Thoàn Thị Mỹ Đ, bà Thoàn Thị Mỹ H.

Tuyên xử:

  1. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 384/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và tạm ứng chi phí tố tụng được xử lý khi giải quyết lại vụ án.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thoàn A P1, bà Thoàn Thị Mỹ Đ, bà Thoàn Thị Mỹ H không phải chịu. Ngày 16 tháng 10 năm 2024, ông P1, bà Đ, bà H mỗi người có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo các biên lai thu số 0009473, 0009474, 0009475 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được nhận lại.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
- Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế

  • Số bản án: 108/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc các bị đơn ông Thoàn A P1, Thoàn Thị Mỹ Đ, Thoàn Thị Mỹ H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sống trên đất tháo dở, di dời tài sản, công trình trên đất (nhà gỗ, nhà thiết, hàng rào, cây trồng trên đất...) để trả lại đất cho các nguyên đơn (trừ lại phần được nhận thừa kế) phần đất tọa lạc tại khóm F, phường H, thành phố C. Yêu cầu chia thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger