Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/DS-ST

Ngày 06 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

và đòi tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Khưu Liên Dung.

Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Trần Minh Muội – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản và đòi tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Bình C, sinh năm 1958; Địa chỉ: Số G, đường D, Khóm G, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

- Đồng bị đơn: Ông Trương Minh S, sinh năm 1975; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp C, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Số A, khóm T B, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và bà Huỳnh Ngọc Thu T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số A, khóm T, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông C vắng mặt do có đơn xin vắng mặt; ông S, bà T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 13/3/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần Bình C trình bày: Do là chỗ quen biết nên ông S, bà T có đến gặp ông C để hỏi vay tiền, thấy hoàn cảnh của ông S và bà T khó khăn nên ông C đồng ý cho ông S, bà T vay, đến ngày 28/8/2023 DL vợ chồng ông S, bà T có làm giấy cam kết với nội dung: Vợ chồng ông S, bà T còn nợ ông C tổng số tiền là 667.000.000 đồng, vợ chồng ông S, bà T trả ông C 400.000.000 đồng, còn nợ lại 267.000.000 đồng (trong đó: 200.000.000 đồng nợ gốc, nợ lãi trước đó chưa trả 67.000.000 đồng), thỏa thuận lãi suất là 1%/tháng đối với số tiền 200.000.000 đồng, tương đương với số tiền là 2.000.000 đồng/tháng (không tín lãi đối với số tiền 67.000.000 đồng), vợ chồng ông S, bà T đưa cho ông C cầm tin 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 282529, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 14/12/2022 cho hộ ông Nguyễn Việt T1 (do vợ chồng ông S, bà T cam kết rằng vợ chồng ông bà đã mua và trả tiền đủ cho hộ ông Nguyễn Việt T1 và đang trong quá trình hoàn tất thủ tục chuyển nhượng). Tuy nhiên, vợ chồng ông S, bà T tiếp tục vi phạm những gì đã cam kết, không trả cho ông C bất cứ khoản tiền nào.

Nay ông C yêu cầu ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T cùng có trách nhiệm trả tổng số tiền nợ vay là 293.100.000 đồng (trong đó: Nợ vay gốc là: 200.000.000 đồng, nợ lãi trước đó chưa trả 67.000.000 đồng; nợ lãi tạm tính từ ngày 28/8/2023 đến ngày 06/9/2024 (12 tháng 09 ngày) của số tiền 200.000.000 đồng theo mức lãi suất 1%/tháng là: 24.600.000 đồng và 1.500.000 đồng tiền mượn) và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/9/2024 cho đến khi ông S, bà T trả hết nợ theo mức lãi suất là 1%/tháng và cả tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án.

- Bị đơn ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông S, bà T không đến tòa án tham gia tố tụng cũng như gửi văn bản ý kiến phản hồi nào về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo thủ tục tố tụng và các văn bản có liên quan nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát xét thấy bảo đảm đủ điều kiện và hợp pháp. Bị đơn không đến Tòa án làm việc, không có mặt khi triệu tập tham gia phiên tòa là chưa chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Bị đơn ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T không đến Tòa án làm việc, ông S, bà T biết việc khởi kiện của nguyên đơn nhưng không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Bình C, buộc ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T cùng có trách nhiệm trả ông Trần Bình C số tiền là 293.100.000 đồng (trong đó: Nợ vay gốc là: 200.000.000 đồng, nợ lãi trước đó chưa trả 67.000.000 đồng; nợ lãi tạm tính từ ngày 28/8/2023 đến ngày 06/9/2024 (12 tháng 09 ngày) của số tiền 200.000.000 đồng theo mức lãi suất 1%/tháng là: 24.600.000 đồng và 1.500.000 đồng tiền mượn).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Bình C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T trả nợ vay và tiền mượn nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và Đòi tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự. Theo biên bản xác minh ngày 27/5/2024 tại Trụ sở ban N, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xác định ông Trương Minh S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ A, ấp C, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang đang sinh sống làm việc cùng với bà Huỳnh Ngọc Thu T tại số A, khóm T, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Tại tờ Giấy cam kết giữa ông C và vợ chồng ông S, bà T ký kết vào ngày 28/8/2024 DL, tính đến ngày khởi kiện là chưa hết 03 năm nên căn cứ Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn còn thời hiệu khởi kiện.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Bình C: Ông C xác định vợ chồng ông S, bà T còn nợ ông C tổng số tiền là 267.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất là 1%/tháng của số tiền 200.000.000 đồng, đối với số tiền 67.000.000 đồng thì không tính lãi được thể hiện tại tờ Giấy cam kết ngày 28/8/2023 và 1.500.000 đồng tiền ông S, bà T đã mượn của ông C để làm chi phí chuyển đổi sổ đỏ. Ông S, bà S thoả thuận sẽ trả dứt số tiền nợ gốc cho ông C trong thời hạn 15 tháng và mỗi tháng sẽ trả tiền lãi cho ông C là 2.000.000 đồng. Ông S, bà T đã viết giấy cam kết cho ông C và ông đã

giao nộp cho Tòa án. Từ khi vay tiền cho đến nay đã hết thời hạn trả tiền nhưng vợ chồng ông S, bà T không trả được khoản nào cho ông C, mặc dù ông C đã nhiều lần yêu cầu ông S, bà T trả nhưng vợ chồng ông S, bà T cố tình lẫn trốn không có thiện chí trả tiền.

[3.1] Xét hợp đồng vay: Ông Trần Bình C xác định vào ngày 28/8/2023 vợ chồng ông S, bà T xác nhận còn nợ ông C số tiền 267.000.000 đồng, các bên thỏa thuận lãi suất là 1%/tháng của số tiền 200.000.000 đồng, đối với số tiền 67.000.000 đồng thì không tính lãi được thể hiện tại tờ Giấy cam kết ngày 28/8/2023, khi vay vợ chồng ông S, bà T đã viết biên nhận cho ông C giữ và ông C đã giao nộp cho Tòa án; Đối với số tiền 1.500.000 đồng ông C cho vợ chồng ông S, bà T mượn được thể hiện tại Giấy báo nợ ngày 28/02/2023 của Ngân hàng TMCP P, chi nhánh B1, phòng G, tên người thụ hưởng Huỳnh Ngọc Thu T, số tài khoản thụ hưởng 7201205045243. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Minh S và bà Huỳnh Ngọc Thu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đến khi xét xử nhưng đều vắng mặt và không rõ lý do, nên không có ý kiến của ông S, bà T đối với yêu cầu khởi kiện của ông C. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, có căn cứ xác định giữa ông Trần Bình C và ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T là có phát sinh giao dịch hợp đồng vay tiền và mượn tiền nên Hội đồng xét xử căn cứ các quy định pháp luật về hợp đồng vay tài sản và đòi tài sản để giải quyết vụ án.

[3.2] Về tiền vốn: Ông Trần Bình C yêu cầu vợ chồng ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T trả số tiền nợ vốn vay là 200.000.000 đồng, tiền nợ lãi trước đó là 67.000.000 đồng và 1.500.000 đồng tiền mượn, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Giấy cam kết đề ngày 28/8/2023 DL, ký tên và ghi rõ họ và tên của bị đơn ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T ghi nhận còn thiếu ông C số tiền 267.000.000 đồng và tại Giấy báo nợ ngày 28/02/2023 của Ngân hàng TMCP P, chi nhánh B1, Phòng G, tên người thụ hưởng Huỳnh Ngọc Thu T, số tài khoản thụ hưởng 7201205045243 thể hiện có nhận từ ông C số tiền 1.500.000 đồng, cũng như tại Biên bản xác minh ngày 27/5/2024 chính quyền địa phương xác định ông S, bà T là vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; Bị đơn không có ý kiến phản đối như đã phân tích tại mục [3.1]. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 164, Điều 166, Điều 463, 466 của Bộ Luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông C, buộc ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T cùng có nghĩa vụ trả cho ông Trần Bính C1 số tiền vay vốn và tiền mượn là 268.500.000 đồng.

[3.3] Về lãi suất: Ông Trần Bình C xác định khi vay có thỏa thuận lãi suất 1%/tháng và từ khi vay đến nay ông S, bà T không có trả khoản lãi nào cho ông C

nên có căn cứ xác định đây là khoản vay có lãi. Ông C yêu cầu ông S, bà T cùng có trách nhiệm trả tiền lãi tính từ ngày 28/8/2023 cho đến khi trả xong khoản nợ vay theo mức lãi suất là 1%/tháng. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của ông C buộc ông S, bà T cùng có trách nhiệm tiền lãi cho ông C từ ngày 28/8/2023 đến ngày xét xử 06/9/2024 là 200.000.000 đồng x 1 %/tháng x 12 tháng 9 ngày = 24.600.000 đồng.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Bình C được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Trương Minh S, bà Huỳnh Thị Thu T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 14.655.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[5] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng vào Điều 5; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng vào Điều 164, Điều 166, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Bình C với ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T.
  2. Buộc ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T cùng có trách nhiệm trả cho ông Trần Bình C tổng số tiền nợ là 293.100.000 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu, một trăm nghìn đồng). Trong đó: Nợ gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), tiền nợ lãi trước đó là 67.000.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu đồng), tiền mượn 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), nợ lãi tính đến ngày 06/9/2024 là 24.600.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án cón phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn

phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Trương Minh S, bà Huỳnh Ngọc Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 14.655.000 đồng (Mười bốn triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
  2. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Khưu Liên Dung Lâm Thị Nguyệt Hồ Bùi Công Bằng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THẨM
Bùi Công B
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi tài sản

  • Số bản án: 108/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger