TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2025/DS-PT Ngày: 12 - 02 - 2025 V/v tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hủy. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc
Ông Trần Trọng Nhân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Vào ngày 20 tháng 01 và ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 548/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hủy”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 109/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 576/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963.
- Bị đơn:
- Bà Lê Ngọc H, sinh năm 1967.
- Bà La Thanh T, sinh năm 1995 (bà T là con ruột bà H).
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 25/12/2024)
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962 (chồng bà L).
- Ông La Hữu T1, sinh năm 1965 (chồng bà H).
- Bà Trịnh Thị Mỹ P, sinh năm 1966.
- Ông Quách Nhất Q, sinh năm 1965.
- Ông Đặng Xuân C, sinh năm 1976.
- Bà Hồ Thị T2, sinh năm 1976.
- Ông Văn Hùng C1, sinh năm 1969.
- Văn phòng C3.
- Văn phòng C4;
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Cùng địa chỉ: Số E, đường D, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số A, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số I ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số E C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số A đường N, Khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số B đường N, Khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L.
(Ông Đ, bà H, ông T1 có mặt; Các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày và yêu cầu:
Căn cứ Mảnh trích đo địa chính số 179 ngày 18/12/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 22/12/2023 thửa đất 902 (mpt) diện tích là 274,6m², loại đất LUC, tờ bản đồ số 4, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An do ông Văn Hùng C1, sinh năm 1969; nơi cư trú: E C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L đồng ý với diện tích đất thực tế đo đạc theo trích đo số 179 ngày 18/12/2023 thửa đất 902 (mpt) diện tích là 274,6m², loại đất LUC.
Chứng thư Thẩm định giá số 16 ngày 10/01/2024 của Công ty Cổ phần T3 đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An
có giá 6.098.000 đồng/m², bà L đồng ý với giá đất theo chứng thư, không yêu cầu định giá lại.
Bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S với bà La Thanh T số công chứng 005461, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/12/2014 tại Phòng C5, tỉnh Long An, trụ sở số B, 28 Lô A, khu Dân cư T, Quốc lộ E, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An (Nay là Văn phòng C4, địa chỉ: số B, đường N, Khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An) đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An, bà L xác định bà L xác lập hợp đồng do bị lừa dối;
Bà L yêu cầu bà La Thanh T trả lại cho bà L thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích thực tế đã trừ lộ giới còn 274,6m², loại đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Đối với phần tiền vay, bà L yêu cầu bà H phải trả cho bà L 100.000.000 đồng, bà L sẽ trả cho bà H 300.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng thửa đất số 902.
Bà Nguyễn Thị L chuyển nhượng thửa đất 902 cho bà H nhưng bà H để cho con gái của bà H là La Thanh T đứng tên trong hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L đồng ý việc thỏa thuận này.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L làm đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị La Thanh T với bà Trịnh Thị Mỹ P, số công chứng 11561, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/5/2017 tại Văn phòng C6, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là Văn Phòng C3) đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà Trịnh Thị Mỹ P, ông Quách Nhất Q với ông Đặng Xuân C, số công chứng 8963, quyển số 9TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/4/2018 tại Văn phòng C3, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Đặng Xuân C, bà Hồ Thị T2 với ông Văn Hùng C1, số công chứng 10625, quyển số 11TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/4/2019, tại Văn phòng C3, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Bà Nguyễn Thị L trình bày nguyên nhân xảy ra tranh chấp: Ngày 08/11/2012 bà L có mượn của bà H là 100.000.000 đồng, lãi suất 5% 01 tháng, thời gian mượn 01 tháng, mục đích bà L mượn tiền của bà H để cho bà Đ1 chị
ruột bà L trả nợ ngân hàng. Bà H không đưa tiền trực tiếp cho bà L mà đưa tiền cho bà Nguyễn Thị Đ1 chị ruột của bà L để bà Đ1 trả ngân hàng nhưng tiền lãi hàng tháng bà L trả trực tiếp cho bà H. Do bà Đ1 không có tiền trả cho bà H nên bà L phải trả lãi cho bà H đến năm 2014 là 48.000.000 đồng và vẫn còn nợ bà H số tiền vốn là 100.000.000 đồng. Tính đến tháng 7 năm 2013 (08 tháng sau từ khi bà H cho bà L mượn tiền), bà Nguyễn Thị Đ1 đã trả cho bà H đủ số tiền 100.000.000 đồng nhưng bà H không nói cho bà L biết và nhận tiền lãi của bà L đến năm 2014. Bà L chỉ trình bày bằng miệng mà không có văn bản nào thể hiện bà L đứng ra vay tiền của bà H dùm cho bà Đ1 là 100.000.000 đồng để mỗi tháng bà L phải trả lãi cho bà H như bà L trình bày.
Bà Nguyễn Thị L cho rằng không biết bà Đ1 đã trả đủ số nợ 100.000.000 đồng cho bà H nên bà L vẫn nghĩ là bà còn nợ bà H là 100.000.000 đồng chưa trả. Từ đó, bà L nhận thấy bà không còn đủ khả năng để trả lãi cho bà H nữa, vì vậy ngày 20/12/2014 bà L và chồng là ông Nguyễn Văn S có ký chuyển nhượng cho chị La Thanh T là con của bà H (Bà L chuyển nhượng cho bà H nhưng bà H để cho con gái tên La Thanh T đứng tên trong hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước tại phòng Công chứng số B tỉnh Long An. Giá thửa đất 902 bà L chuyển nhượng cho bà H là 300.000.000 đồng, mục đích bà L chuyển nhượng đất cho bà H để bà L trả nợ cho bà H 100.000.000 đồng mà bà L mượn dùm cho bà Đ1. Bà L và bà H thỏa thuận khi chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 902, bà L sẽ được trừ 100.000.000 đồng, còn lại bà L nhận của bà H là 200.000.000 đồng.
Ngày 01/12/2014 bà H đưa cho bà L trước số tiền 200.000.000 đồng, khoảng 01 tuần sau tính từ ngày 01/12/2014 bà L đưa sổ đỏ cho bà H làm thủ tục chuyển quyền, ngày 20/12/2014 bà L cùng chồng là ông S đến phòng C5, tỉnh Long an để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà T và kể từ ngày 20/12/2014 bà L chính thức giao thửa đất 902 cho bà T quản lý, sử dụng.
Cuối năm 2020, bà Đ1 chị ruột của bà L nói cho bà L biết số tiền 100.000.000 đồng mà bà L mượn bà H dùm cho bà Đ1, bà Đ1 đã trả đủ rồi, bà Đ1 đã trả 02 lần, trong thời gian 08 tháng kể từ ngày 08/11/2012. Sau khi biết được thông tin trên, bà L khởi kiện bà H nhưng do dịch bệnh C2, đến cuối năm 2022 bà L mới nộp đơn khởi kiện lên Tòa án yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà L với bà La Thanh T đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², đất tại xã L, huyện C, tỉnh Long An hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/12/2014. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/12/2014, bà L cho rằng bị bà H lừa dối. Đồng thời, bà L yêu cầu bà La Thanh T trả lại cho bà L thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Đối với phần tiền vay, bà L yêu cầu bà H phải trả cho bà L 100.000.000 đồng, bà L trả cho bà H 300.000.000 đồng tiền tương đương giá chuyển nhượng thửa đất số 902.
Bà Nguyễn Thị L xác định bà L không có mua thức ăn, không có mượn tiền của bà H để trang trải trong gia đình nợ bà H 100.000.000 đồng như bà H trình bày, bà H ép bà L nói là do bà L nợ 100.000.000 đồng mà vợ chồng bà H thường đánh nhau, từ đó bà L bị cắn rứt lương tâm nên bà L chuyển nhượng thửa đất 902 cho con của bà H để trừ số nợ 100.000.000 đồng đã mượn dùm cho bà Đ1 chị ruột bà L. Bà Đ1 đã chết.
Bị đơn bà Lê Ngọc H trình bày:
Bà Lê Ngọc H không đồng ý các yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S với bà La Thanh T đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 301m², đất trồng lúa, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An theo hợp đồng ngày 20/12/2014, được công chứng tại Phòng C5, tỉnh Long An (Nay là Văn phòng C4), số công chứng 005461, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD, bà L cho rằng bị bà H lừa dối, bà H không lừa dối đối với bà L. Bà L yêu cầu bà La Thanh T trả lại cho bà L thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², đất tại xã L, huyện C, tỉnh Long An bà H không đồng ý, bởi vì bà H là người nhận chuyển nhượng thửa đất 902, bà H để cho con gái tên La Thanh T đứng tên trong hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với phần tiền vay, bà L yêu cầu bà H phải trả cho bà L 100.000.000 đồng, bà L sẽ trả cho bà H 300.000.000 đồng là tiền bà L chuyển nhượng thửa đất số 902 cho bà H, bà H không đồng ý.
Bà H bán cho bà L thức ăn gia súc nhưng bà L còn nợ tiền, bà H cho bà L mượn tiền trang trải cuộc sống từ năm 2010 đến năm 2012, bà L nợ bà H tổng số tiền mua thức ăn và tiền mượn của bà H để xài trong gia đình là 100.000.000 đồng. Do bà L không có tiền trả cho bà H nên bà B L mới năn nỉ là bà H mua thửa đất 902 của bà L, đất lúa với giá 300.000.000 đồng, mục đích của bà H mua là để trừ số nợ 100.000.000 đồng bà L nợ, do đó bà H mới trả thêm cho bà L số tiền 200.000.000 đồng vào năm 2014. Số tiền bà L mua thức ăn thiếu, tiền mượn bà H có ghi sổ đầy đủ, năm 2014, thỏa thuận chuyển nhượng đất 902 xong trừ nợ bà H bỏ sổ không còn. Bà L tự nguyện chuyển nhượng thửa đất 902 để bà L còn được nhận số là 200.000.000 đồng. Bà H mua thửa đất 902 của bà L nhưng cho người con gái tên La Thanh T đứng tên. Bà H không có nhận số tiền 48.000.000 đồng tiền lãi như bà L trình bày, nếu bà L cho rằng bà H nhận tiền lãi của số tiền 100.000.000 đồng từ năm 2012 đến năm 2014, bà L phải cung cấp giấy tờ chứng minh bà H nhận tiền lãi mỗi tháng của bà L.
Bà Nguyễn Thị Đ1 là chị ruột bà Nguyễn Thị L. Bà Đ1 có mượn tiền của bà H 100.000.000 đồng, nhưng bà Đ1 mượn chỉ có vài hôm thì trả đủ số tiền 100.000.000 đồng nên bà H không còn giữ giấy cho bà Đ1 mượn tiền. Bà H xác định bà Đ1 đã trả tiền cho bà H rồi, tiền bà Đ1 đã trả cho bà H xong không có liên quan gì đến số tiền bà L mua thức ăn thiếu và nợ tiền của H là 100.000.000 đồng.
Bà L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L và ông S với bà La Thanh T là con của bà H và yêu cầu La Thanh T trả lại cho bà L thửa đất 902 thì bà H không đồng ý đất con bà H là chị T đã chuyển nhượng
cho người khác rồi, thửa đất 902 con bà H không đứng tên, không quản lý sử dụng nên không trả đất cho bà L.
Đối với yêu cầu của bà L là bà H trả cho bà L 100.000.000 đồng, nhưng bà H không có nợ tiền bà L nên không trả. Còn bà L trả lại cho bà H 300.000.000 đồng là tiền bà H mua thửa đất 902 của bà L, bà H không yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng đất, không đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng, không yêu cầu bà L trả tiền, bà L có trả tiền thì bà H cũng không nhận; việc chuyển nhượng thửa đất 902 đã có hiệu lực và hoàn thành việ chuyển nhượng từ năm 2014.
Bà La Thanh T là đồng bị đơn trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 22/3/2023 của Tòa án:
Bà T là con gái của bà Lê Ngọc H, cuối năm 2014, bà H có mua cho bà T 301m² đất lúa thuộc thửa đất 902, tờ bản đồ số 2, đất tại, xã L, huyện C của bà Nguyễn Thị L, tiền trả cho bà L thì do bà H trả. Chị T có đến phòng công chứng số B tỉnh Long An và có vợ chồng bà L, ông S ký tên chuyển nhượng, vợ chồng bà L chuyển nhượng đất là tự nguyện không bị ai lừa dối hay ép buộc. Ngày 13/01/2014, chị T đứng tên thửa đất 902, vợ chồng bà L đã giao đất cho chị T quản lý, sử dụng sau khi ký tên chuyển nhượng tại phòng công chứng. Khoảng năm 2017, bà T chuyển nhượng thửa đất 902 cho người khác, do chuyển nhượng qua trung gian nên bà T không biết ai đang đứng tên, sử dụng thửa đất này. Nay bà L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà L với chị T, chị T không đồng ý vì việc chuyển nhượng đất là tự nguyện, các bên đã giao nhận tiền và đất xong, bà T đứng tên đất và cũng đã chuyển nhượng cho người khác, bà T không còn quản lý sử dụng đất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S là chồng của bà L trình bày:
Ông S là chồng bà L, ông và bà L có đăng ký kết hôn và đang sống chung đã hơn 30 năm.
Ông S không biết gì về việc bà L mượn tiền của bà H đưa cho bà Đ1 trả nợ, ông S xác định nhà có nuôi vịt vài trăm con nhưng không nhớ năm, khi nuôi vịt thì mua thức ở huyện C, tỉnh Long An không mua thức vịt ăn của bà H, bà L là người trực tiếp mua thức, ông S không mua. Nhà bà H và nhà ông S gần sát nhau. Khi bà L kêu ông S đi ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà H, ông S đi ký chứ bà L không nói nội dung và nguyên nhân vì sao phải chuyển nhượng thửa đất 902 cho bà H. Thửa đất 902 là tài sản riêng của bà L, do anh em của bà L cho tiền bà L mua đã lâu, ông S không nhớ năm. Ông S không nghe bà L nói trả tiền lãi cho bà H.
Ông S không có ý kiến về việc bà L kiện bà H, ông S không có liên quan.
Ông Quách Nhất Q và bà Trịnh Thị Mỹ P trình bày ý kiến tại biên bản hòa giải ngày 10/5/2024:
Ông Q và bà P nhận chuyển nhượng thửa đất 902 từ bà La Thanh T ngày 10/5/2017 đã trả tiền cho bà T khoảng 900.000.000 đồng nhưng không nhớ chính xác, ông Q và bà P đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 902 rồi
ông Q, bà P chuyển nhượng thửa đất 902 cho ông Đặng Xuân C, giá chuyển nhượng hơn 01 tỷ đồng nhưng cũng không nhớ chính xác. Việc ông Q, bà P nhận tiền của ông C có làm giấy riêng nhưng khi chuyển nhượng đất nhờ dịch vụ làm thủ tục nên ông Q, bà P không còn giữ giấy tờ giao, nhận tiền từ ông C.
Ông Q, bà P không đồng ý việc bà L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 902 giữa bà T cho ông Q, bà P vì không có căn cứ gì để hủy hợp đồng chuyển nhượng. Ông Q và bà P xác định là hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 902 đã có hiệu lực pháp luật.
Ông Đặng Xuân C là chồng bà Hồ Thị T2 trình bày ý kiến tại biên bản hòa giải ngày 10/5/2024:
Ông C là chồng của bà T2, do bà T2 bận chăm sóc người già nên không đến Tòa án được, ông C không đồng ý yêu cầu của bà L là hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 902 giữa ông Q, bà P với ông C và hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông C, bà T2 cho ông Văn Hùng C1 vì ông C mua đất hợp pháp và chuyển nhượng cho ông C1 cũng là hợp pháp. Trong trường hợp việc chuyển nhượng đất có vi phạm quy định của pháp luật thì người nhận đất sau cùng sẽ chịu trách nhiệm với bà L chứ ông C xác định không có liên quan. Khi ông C nhận chuyển nhượng thửa đất 902 từ ông Q, bà P ông C không biết bà L là ai có liên quan gì thửa đất trên, ông C mua và chuyển nhượng thửa đất cho ông C1 cũng không có ai tranh chấp, số tiền ông C chuyển nhượng đất cho ông C1 là hơn một tỷ đồng nhưng không nhớ chính xác, do ông C mua thửa đất 902 chưa được một năm kẹt tiền nên chuyển nhượng cho ông C1, mọi thủ tục do dịch vụ làm, ông C chỉ đến Văn phòng công chứng ký tên.
Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày ý kiến tranh luận:
Bà H lừa dối bà L ở chỗ là bà Đ1 trả tiền cho bà H rồi nhưng bà H không nói cho bà L biết để bà L thấy thiếu nợ nên tự nguyện chuyển nhượng thửa đất 902 cho bà H để trừ nợ 100.000.000 đồng và nhận tiền chuyển nhượng đất còn lại là 200.000.000 đồng. Bà L yêu cầu hủy tất cả các hợp đồng chuyển nhượng để bà L trả cho bà H là 200.000.000 đồng, bà H trả cho bà L 100.000.000 đồng còn bà T trả lại cho bà L thửa đất 902.
Bị đơn bà Lê Ngọc H trình bày ý kiến tranh luận:
Bà H không đồng ý yêu cầu của bà L là hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 902. Tính đến năm 2012, bà L mua thức ăn thiếu, nợ tiền bà H 100.000.000 đồng, nhưng bà L khai bà L mượn tiền dùm cho bà Đ1 100.000.000 đồng, bà L phải tự nghĩ là có đủ uy tín, điều kiện để mượn tiền dùm nữa không. Bà H không nhận tiền lãi là 48.000.000 đồng như bà L khai, bà L nợ tiền chưa trả lại đi mượn nợ dùm rồi trả lãi cho bà H, lời khai của bà L là không phù hợp và không có căn cứ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S không có ý kiến tranh luận.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 109/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định sữa chữa, bổ sung bản án số 50 ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 116, 117, 118, 123, 131, 132, 133, 423, 427, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 khoản 3 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy bốn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu trả đất:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S với bà La Thanh T số công chứng 005461, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/12/2014 tại phòng C5, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà La Thanh T với bà Trịnh Thị Mỹ P, số công chứng 11561, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/5/2017 tại Văn phòng C6, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là Văn Phòng C3) đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà Trịnh Thị Mỹ P, ông Quách Nhất Q với ông Đặng Xuân C, số công chứng 8963, quyển số 9TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/4/2018 tại Văn phòng C3, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Đặng Xuân C, bà Hồ Thị T2 với ông Văn Hùng C1, số công chứng 10625, quyển số 11TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/4/2019, tại Văn phòng C3, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu bà La Thanh T trả thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², diện tích đo thực tế đã trừ lộ giới còn lại 274,6m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Diện tích đo thực tế theo
Mảnh trích đo địa chính số 179-2023 ngày 18/12/2023 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 22/12/2023.
- Chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu 18.250.000 đồng, bà L đã nộp đủ.
- Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
Trả cho bà Nguyễn Thị L 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0013390 ngày 15/11/2022; 2.500.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0013391 ngày 15/11/2022; 900.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0012312 ngày 26/7/2023 đều của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.
Ngày 29/8/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Theo biên bản hòa giải ngày 06/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã L, bà H thừa nhận bà Đ1 đã trả số tiền 100.000.000 đồng. Trường hợp hợp đồng vô hiệu thì bà H phải trả lại cho bà L số tiền bà Đ1 đã trả 100.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà L.
Bà Lê Ngọc H trình bày: Số tiền bà Đ1 trả cho bà 100.000.000 đồng là tiền bà Đ1 vay riêng của bà, không liên quan đến số tiền nợ bà L nợ bà. Đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L nhận thấy:
Bà L cho rằng vào ngày 08/11/2012 bà L có mượn của bà H số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất 5%/01 tháng, thời gian mượn 01 tháng, mục đích bà L
mượn tiền của bà H để cho bà Nguyễn Thị Đ1 (là chị ruột bà L) trả nợ ngân hàng. Bà H không đưa tiền trực tiếp cho bà L mà đưa tiền cho bà Đ1 để bà Đ1 trả ngân hàng nhưng tiền lãi hàng tháng bà L trả trực tiếp cho bà H. Do bà Đ1 không có tiền trả cho bà H nên bà L phải trả lãi cho bà H đến năm 2014 là 48.000.000 đồng và vẫn còn nợ bà H số tiền vốn là 100.000.000 đồng. Tính đến tháng 7/2013 (08 tháng sau từ khi bà H cho bà L mượn tiền), bà Nguyễn Thị Đ1 đã trả cho bà H đủ số tiền 100.000.000 đồng nhưng bà H không nói cho bà L biết và nhận tiền lãi của bà L đến năm 2014. Do không biết bà Đ1 đã trả đủ số nợ 100.000.000 đồng cho bà H nên bà L vẫn nghĩ là bà còn nợ bà H là 100.000.000 đồng chưa trả. Từ đó, bà L nhận thấy bà không còn đủ khả năng để trả lãi cho bà H nữa, vì vậy ngày 20/12/2014 tại Phòng C5 tỉnh Long An, bà L và chồng là ông Nguyễn Văn S có ký chuyển nhượng cho chị La Thanh T là con của bà H (Bà L chuyển nhượng cho bà H nhưng bà H để cho con gái tên La Thanh T đứng tên trong hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Giá thửa đất 902 bà L chuyển nhượng cho bà H là 300.000.000 đồng, mục đích bà L chuyển nhượng đất cho bà H để bà L trả nợ cho bà H 100.000.000 đồng mà bà L mượn dùm cho bà Đ1. Bà L và bà H thỏa thuận khi chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 902, bà L sẽ được trừ 100.000.000 đồng, còn lại bà L nhận của bà H là 200.000.000 đồng. Cuối năm 2020, bà Đ1 nói cho bà L biết số tiền 100.000.000 đồng mà bà L mượn bà H dùm cho bà Đ1 thì bà Đ1 đã trả đủ rồi, bà Đ1 đã trả 02 lần, trong thời gian 08 tháng kể từ ngày 08/11/2012.
Tuy nhiên, bà H không thừa nhận có nhận số tiền 48.000.000 đồng tiền lãi như bà L trình bày. Bà H trình bày bà H bán cho bà L thức ăn gia súc nhưng bà L còn nợ tiền và bà H cho bà L mượn tiền trang trải cuộc sống từ năm 2010 đến năm 2012, bà L nợ bà H tổng số tiền mua thức ăn và tiền mượn của bà H để xài trong gia đình là 100.000.000 đồng. Do bà L không có tiền trả cho bà H nên bà L mới năn nỉ bà H mua thửa đất 902 với giá 300.000.000 đồng, mục đích của bà H mua là để trừ số nợ 100.000.000 đồng bà L nợ, do đó bà H mới trả thêm cho bà L số tiền 200.000.000 đồng vào năm 2014. Bà Đ1 có mượn tiền của bà H 100.000.000 đồng, nhưng bà Đ1 mượn chỉ có vài hôm thì trả đủ số tiền 100.000.000 đồng.
Xét thấy, bà L không cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện vào ngày 08/11/2012 bà L đứng ra vay tiền của bà H dùm cho bà Đ1 số tiền 100.000.000 đồng và việc bà L trả lãi cho bà H đến năm 2014 số tiền là 48.000.000 đồng. Bà L cho là đến tháng 7/2013 thì bà Đ1 đã trả cho bà H đủ số tiền 100.000.000 đồng nhưng đến cuối năm 2020 (hơn 07 năm sau) thì bà Đ1 mới nói cho bà L biết là không hợp lý. Năm 2020 thì bà Đ1 còn sống nhưng bà L cũng không yêu cầu đối chất giữa bà H với bà Đ1 để làm rõ việc trả nợ số tiền 100.000.000 đồng. Do đó, trình bày của bà L về việc bà H lừa dối bà là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S với bà La Thanh T ngày 20/12/2014 đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An được lập tại Phòng C5, tỉnh Long
An (Nay là Văn phòng C4) đúng quy định pháp luật, không có căn cứ để hủy Hợp đồng như bà L yêu cầu.
Do đó, không có căn cứ để hủy các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị La Thanh T với bà Trịnh Thị Mỹ P ngày 10/5/2017 tại Văn phòng Có (nay là Văn Phòng C3); Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà Trịnh Thị Mỹ P, ông Quách Nhất Q với ông Đặng Xuân C ngày 09/4/2018 tại Văn phòng C3; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Đặng Xuân C, bà Hồ Thị T2 với ông Văn Hùng C1 ngày 20/4/2019 tại Văn phòng C3 đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Từ những căn cứ nêu trên, kháng cáo của bà Nguyễn Thị L không có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của L. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C3, Văn phòng C4 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. bà la T, ông Nguyễn Văn S, bà Trịnh Thị Mỹ P, ông Quách Nhất Q, ông Đặng Xuân C, bà Hồ Thị T2, ông Văn Hùng C1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- [3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, thấy rằng:
- [3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt đều thống nhất về vị trí, diện tích thực tế thửa đất 902 (mpt) là 274,6m², không tính diện tích 74,7m² thuộc đường tỉnh 830 đất giao thông thuộc Ủy ban nhân dân xã L quản lý, theo Mảnh trích đo địa chính số 179-2023 ngày 18/12/2023 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 22/12/2023, thống nhất giá đất tại thửa đất 902 là 6.098.000 đồng/m² theo Chứng thư Thẩm định giá số 16 ngày 10/01/2024 của Công ty Cổ phần T3, không yêu cầu định giá lại.
- [3.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S với bà La Thanh T số công chứng 005461, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/12/2014 tại Phòng C5, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m².
- Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy bốn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu trả đất:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S với bà La Thanh T số công chứng 005461, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/12/2014 tại phòng C5, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà La Thanh T với bà Trịnh Thị Mỹ P, số công chứng 11561, quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/5/2017 tại Văn phòng C6, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An
- (nay là Văn Phòng C3) đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà Trịnh Thị Mỹ P, ông Quách Nhất Q với ông Đặng Xuân C, số công chứng 8963, quyển số 9TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/4/2018 tại Văn phòng C3, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Đặng Xuân C, bà Hồ Thị T2 với ông Văn Hùng C1, số công chứng 10625, quyển số 11TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/4/2019, tại Văn phòng C3, số A, đường N, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu bà La Thanh T trả thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², diện tích đo thực tế đã trừ lộ giới còn lại 274,6m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Diện tích đo thực tế theo Mảnh trích đo địa chính số 179-2023 ngày 18/12/2023 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 22/12/2023.
- Chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu 18.250.000 đồng, bà L đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
- - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
- - VKSND tỉnh Long An;
- - TAND huyện Cần Giuộc;
- - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc;
- - Các đương sự;
- - Lưu HS; AV./.
[3.1] Bà Nguyễn Thị L có thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 20/12/2014 tại phòng C5, tỉnh Long An bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 902 cho bà La Thanh T (con ruột bà Lê Ngọc H).
Ngày 10/5/2017 bà La Thanh T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Trịnh Thị Mỹ P đối với thửa đất số 902.
Ngày 09/4/2018 bà Trịnh Thị Mỹ P, ông Quách Nhất Q ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đặng Xuân C đối với thửa đất số 902.
Ngày 20/4/2019 ông Đặng Xuân C, bà Hồ Thị Tuyết K hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Văn Hùng C1 đối với thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích 301m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Bà L yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên, lý do bà L bị bà H lừa dối.
[3.3.1] Bà L cho rằng bị bà H là mẹ của bà T lừa dối khi bà L ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 902 cho bà H. Trước đó ngày 08/11/2012 bà L có mượn của bà H 100.000.000 đồng, lãi suất 5%/01 tháng, thời gian mượn 01 tháng, mục đích bà L mượn tiền của bà H để cho bà Đ1 là chị ruột bà L trả nợ Ngân hàng (bà Đ1 sinh năm 1948, chết ngày 06/5/2023,). Bà H không đưa tiền trực tiếp cho bà L mà đưa tiền cho bà Đ1 chị ruột của bà L luôn để bà Đ1 trả Ngân hàng nhưng tiền lãi mỗi tháng bà L phải trả cho bà H, vì bà Đ1 không có tiền trả cho bà H nên bà L phải trả lãi cho bà H đến năm 2014 là 48.000.000 đồng còn nợ bà H số tiền gốc là 100.000.000 đồng, nhưng bà H xác định không có sự việc bà L mượn tiền dùm cho bà Đ1 như bà L khai, bà H không nhận số tiền lãi 48.000.000 đồng như bà L khai. Đến tháng 7 năm 2013 (08 tháng sau từ ngày bà L mượn tiền), bà Nguyễn Thị Đ1 trả cho bà H đủ số tiền 100.000.000 đồng nhưng bà H không nói cho bà L biết mà bà H còn nhận tiền lãi của bà L đến năm 2014. Xét thấy ngoài lời khai của bà L ra, bà L không cung cấp được chứng cứ hoặc giấy tờ gì để chứng minh cho lời trình bày của bà L là có căn cứ.
[3.3.2] Bà L cho rằng vì không biết bà Đ1 đã trả đủ số tiền nợ 100.000.000 đồng cho bà H nên ngày 20/12/2014 bà L cùng chồng là ông Nguyễn Văn S chuyển nhượng cho bà H (con gái bà H tên La Thanh T đứng tên trong hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thửa đất số 902, tờ bản đồ số 4, diện tích theo giấy là 301m², loại đất lúa, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Hợp đồng được công chứng tại phòng C5 tỉnh Long An. Bà L chuyển nhượng cho bà H thửa đất 902 giá 300.000.000 đồng, mục đích bà L chuyển nhượng đất cho bà
H để bà L trả nợ thay cho bà Đ1 100.000.000 đồng. Bà L nhận số tiền chuyển nhượng đất còn lại từ bà H là 200.000.000 đồng.
[3.3.3] Bà L khai cuối năm 2020 (07 năm sau khi bà L chuyển nhượng đất cho bà H), bà Đ1 nói cho bà L biết số tiền 100.000.000 đồng mà bà L đã mượn của bà H dùm bà Đ1, bà Đ1 trả cho bà H đủ rồi, bà Đ1 đã trả 02 lần, trong thời gian 08 tháng kể từ ngày 08/11/2012 đến tháng 7 năm 2013. Do đó bà L xác định là bà H đã lừa dối bà L là bà H đã nhận số tiền 100.000.000 đồng của bà Đ1 rồi nhưng không nói cho bà L biết. Bà L cứ nghĩ bà L còn nợ bà H 100.000.000 đồng nên mới chuyển nhượng thửa đất 902 cho bà H, bà L xác định bà H đã lừa dối bà L nên hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét bà L cho rằng bà chuyển nhượng thửa đất cho bà H là không tự nguyện bị bà H lừa dối nhưng bà L không có chứng cứ gì để chứng minh trong khi bà H khai bà L năn nỉ bà H mua thửa đất 902 của bà L. Lời trình bày của bà H là phù hợp với lời khai của bà L trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa là bà L có nợ bà H số tiền 100.000.000 đồng, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 902 giữa vợ chồng bà L cho bà T, bà L đã bàn giao đất cho bà T sử dụng từ năm 2014 và bà T đã chuyển nhượng thửa đất 902 cho người thứ ba vào năm 2017 nhưng bà L không tranh chấp. Bà L cho rằng bà L nhận nợ 100.000.000 đồng cho bà Đ1 là chị ruột và có trả lãi cho bà H, nhưng bà L không nhận trực tiếp số tiền 100.000.000 đồng từ bà H, số tiền trả lãi mỗi tháng đến năm 2014 là 48.000.000 đồng cũng không có chứng cứ gì để xác định bà H có nhận khoản tiền này ngoài lời khai của bà L. Bà L không nhận tiền trực tiếp, không có giấy mượn nợ dùm cho bà Đ1 nhưng vẫn trả lãi hàng tháng là không có căn cứ để chấp nhận, bà H khai không có nhận số tiền lãi là 48.000.000 đồng như bà L khai. Số tiền 100.000.000 đồng bà L nợ bà H là do bà L mua thức ăn cho gia súc và bà L mượn tiền của bà H xài nhiều lần còn nợ 100.000.000 đồng nên bà L mới năn nỉ bà H nhận chuyển nhượng thửa đất 902 để trừ số tiền 100.000.000 đồng của bà L nợ bà H, không phải là số tiền 100.000.000 đồng mà bà L nhận nợ thay cho bà Đ1. Đối với bà Đ1, bà H khai khi bà Đ1 còn sống có mượn bà H số tiền 100.000.000 đồng, nhưng bà Đ1 mượn vài ngày trả đủ cho bà H, số tiền bà Đ1 mượn của bà H không có liên quan gì đến số tiền bà L nợ bà H 100.000.000 đồng, do đó có căn cứ xác định bà L chuyển nhượng thửa đất 902 cho bà H là để trừ số tiền của bà L nợ bà H 100.000.000 đồng. Xét thấy lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa là không có căn cứ để chấp nhận bởi vì bà L mượn tiền 100.000.000 đồng của bà H cho bà Đ1 không có chứng cứ gì chứng minh cho việc bà L mượn dùm số tiền này. Hơn nữa bà Đ1 là chị ruột của bà L không có nhờ bà L mượn tiền của bà H, được chứng minh là bà Đ1 đã trả số tiền mượn 100.000.000 đồng cho bà H được bà H xác nhận và bà Đ1 không nói cho bà L biết là bà Đ1 đã trả tiền cho bà H.
[3.3.4] Theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép.
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm
làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Bà L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S với bà La Thanh T số công chứng 005461, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/12/2014 được công chứng tại phòng C5, tỉnh Long An.
Căn cứ Điều 423 hủy bỏ hợp đồng một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây; bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận; bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; trường hợp khác do luật quy định; vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
[3.4] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự có căn cứ xác định vợ chồng bà L chuyển nhượng thửa đất 902 cho bà H là tự nguyện để trừ số nợ của bà L đối với bà H là 100.000.000 đồng, bà H không lừa dối bà L để bà L chuyển nhượng đất. Bà H không vi phạm nghĩa vụ trong và sau khi xác lập hợp đồng chuyển nhượng với bà L nên không có căn cứ để hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà L với bà H do bà T con bà H đứng tên trong hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Đối với yêu cầu của bà L, yêu cầu bị đơn bà La Thanh T trả cho nguyên đơn thửa đất 902 nội dung yêu cầu này là giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn S với bà La Thanh T số công chứng 005461, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/12/2014 là các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nhưng thửa đất 902, bà T đã chuyển nhượng cho người thứ ba và người thứ ba đã chuyển nhượng cho người khác hiện tại người đứng tên sau cùng là ông Văn Hùng C1. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng đất theo yêu cầu của bà L; mặc khác căn cứ Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì 04 hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 902 đều có hiệu lực, không vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu bà La Thanh T trả thửa đất 902, tờ bản đồ số 4, diện tích đo thực tế đã trừ lộ giới còn lại 274,6m², loại đất trồng lúa, đất tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An là phù hợp.
[5] Từ phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Bà L kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Chi phí tố tụng: gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá số tiền 18.250.000 đồng, căn cứ khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Nguyễn Thị L phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng 18.250.000 đồng và bà L đã nộp đủ.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy 04 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu bị đơn trả đất thuộc thửa 902 cho bà L, yêu cầu trả đất tính án phí không có giá ngạch, do đó bà Nguyễn Thị L phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên đến ngày xét xử sơ thẩm bà L đủ điều kiện miễn án phí và có đơn xin miễn án phí do đó miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị L.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị L không được Tòa án chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên bà L là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 109/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 116, 117, 118, 123, 131, 132, 133, 423, 427, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 khoản 3 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
Trả cho bà Nguyễn Thị L 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0013390 ngày 15/11/2022; 2.500.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0013391 ngày 15/11/2022; 900.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0012312 ngày 26/7/2023 đều của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Miễn cho bà Nguyễn Thị L án phí dân sự phúc thẩm.
Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 108/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hủy.
- Số bản án: 108/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hủy.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hủy
