Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HS-ST.

Ngày: 05-12-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hành

Bà Hà Ngân Kim Tới

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Kiều Thanh Thật - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy K (tên gọi khác: Không có), Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1991 tại: Huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc C và bà Phan Thị Thu H; Vợ: Ngô Thị Diễm H1 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2013; nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/7/2024 cho đến nay (có mặt).

* Bị hại: Trần Thị Kiều L; Sinh năm 1994; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Dương Tấn H2; Sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 23 giờ, ngày 26/02/2024, bị cáo Nguyễn Duy K hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73 của bà Trần Thị Kiều L là nhân viên làm chung với K tại quán K1 thuộc ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để đi ra ngoài quán để mua cà phê. Sau khi mua cà phê, bị cáo K điều khiển xe của Kiều L về lại quán và K không có trả lại xe cho bà L, bị cáo vẫn giữ chìa khóa xe rồi sau đó đi ngủ. Đến khoảng hơn 05 giờ, ngày 27/02/2024, bị cáo K điều khiển xe mô tô của Kiều L đi một mình từ quán K1 đến tiệm S thuộc xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để cầm với giá 25.000.000 đồng (H3 mươi lăm triệu đồng). Số tiền trên, K đem đi trả nợ 10.000.000đ (Mười triệu đồng), số tiền còn lại, K nạp tiền vào tài khoản game của K để chơi game cho đến hết số tiền trên. Sau đó, K quay lại tiệm S bán xe đã cầm, chủ tiệm sửa xe P đồng ý mua với giá 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng), K đồng ý bán nên chủ tiệm sửa xe P đưa cho K thêm 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vì trước đó K đã nhận 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). K nạp tiền vào tài khoản game để chơi cho đến khi hết số tiền trên thì K nhắn tin cho L đã bán xe và tắt nguồn điện thoại. Sau đó, K bỏ trốn qua tỉnh Kiên Giang làm thuê trên tàu cá ngoài biển, đến ngày 19/6/2024 thì K về và đến Cơ quan Công an để trình diện.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 5 năm 2024, giá trị của xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73 tại thời điểm yêu cầu định giá ngày 27/02/2024 có giá trị còn lại là: 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).

Về vật chứng, Cơ quan điều tra thu giữ, xử lý:

  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: SH MODE; Màu sơn: Đỏ Đen. Tình trạng đã qua sử dụng.
  • 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 83 000403 do bà Trần Thị Kiều L đứng tên chủ sở hữu.
  • 01 (một) căn cước công dân tên Trần Thị Kiều L; Sinh ngày: 16/9/1994; Nơi thường trú: ấp Đ, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

Cơ quan điều tra xác định những vật chứng trên là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Kiều L nên tiến hành trao trả lại cho bà L.

Phần trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Kiều L yêu cầu bồi thường 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để bị hại chuộc lại xe và bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu gì thêm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy K khai nhận: Giữa bị cáo và bị hại quen nhau nên vào tối ngày 26/02/2024 bị cáo mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73 của bị hại đi mua cà phê, khi mua về bị cáo không trả xe cho bị hại, đến sáng ngày 27/02/2024 bị cáo điều khiển chiếc xe của bị hại đem đi cầm với giá 25.000.000 đồng, số tiền cầm xe được bị cáo đã tiêu xài hết nên bị cáo đã quay lại chỗ cầm chiếc xe bán với giá 35.000.000 đồng và được chủ tiệm đồng ý nên đưa thêm cho bị cáo 10.000.000 đồng, sau khi bán xe thì bị cáo nhắn tin cho bị hại nói là bán xe rồi và tắt nguồn điện thoại, rồi trốn qua tỉnh Kiên Giang làm thuê đến ngày 19/6/2024 bị cáo đến Công an đầu thú.

Trong quá trình điều tra bà Trần Thị Kiều L trình bày: Bà và bị cáo quen biết nhau nên vào tối ngày 26/02/2024 K mượn xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73 của bà đi mua đồ, khi mua đồ về K không có trả xe mà sáng hôm sau K tiếp tục điều khiển xe đi nhưng không nói đi đâu, đến khoảng 18 giờ ngày 27/02/2024 nhắn tin nói là đã bán xe tại tiệm Phát nên bà đi xin chuộc lại nhưng chủ tiệm nói là chuộc 36.500.000 đồng nên bà đi báo công an. Nhưng hiện nay bà và gia đình K đã đưa tiền cho bà chuộc lại xe nên bà không yêu cầu xử lý hình sự đối với K và xin bại nãi cho bị cáo, về bồi thường thiệt do K đã đưa tiền chuộc lại xe 20.000.000 đồng nên bà không yêu cầu bồi thường.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ông Dương Tấn H2 trình bày: Vào sáng ngày 27/02/2024 ông đang tiện sửa xe của gia đình ở ấp C, xã T thì có anh K là người cùng địa phương điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73 đến và nói là cầm với giá 25.000.000 đồng và khi ông kiểm tra giấy tờ thấy đầy đủ nên ông đã đồng ý và đưa tiền cho K 25.000.000 đồng, sau đó trong ngày K quay lại bán xe, sau khi tham khảo giá nên ông đã mua chiếc xe nêu trên với giá 35.000.000 đồng nên ông đưa cho K thêm 10.000.000 đồng, đến tối cùng ngày thì có người tên L điện thoại lại hỏi có K bán xe không và xin chuộc lại nên ông đồng ý, sau đó có công an đến thu xe thì ông mới biết K mượn xe của L đem đi bán và hiện nay gia đình K đã trả lại số tiền 35.000.000 đồng mà ông đã đưa cho K nên ông không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSTĐ ngày 06/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Duy K về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề luận tội đối với bị cáo Nguyễn Duy K tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 02 năm tù.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy K xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của bị hại Trần Thị Kiều L tại phiên tòa. Xét thấy, bị hại Trần Thị Kiều L đã có lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  3. Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo Nguyễn Duy K đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Bị cáo Nguyễn Duy K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng lợi dụng sự quen biết với bị hại, vào tối ngày 26/02/2024 bị cáo đã mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73 để đi mua đồ, đến ngày 27/02/2024 bị cáo đem chiếc xe nêu trên đi cầm, sau đó bán với số tiền 35.000.000 đồng, sau khi bán được xe bị cáo bỏ trốn. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 5 năm 2024, giá trị của xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73 tại thời điểm yêu cầu định giá ngày 27/02/2024 có giá trị còn lại là: 45.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Duy K thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại trái pháp luật đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. Tội phạm do bị cáo Nguyễn Duy K thực hiện không những xâm hại đến tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an toàn xã hội. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
  1. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả cho bị hại được bị hại xin bãi nại và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83C1-649.73; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: SH MODE; Màu sơn: Đỏ Đen. Tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 83 000403 do bà Trần Thị Kiều L đứng tên chủ sở hữu; 01 (một) căn cước công dân tên Trần Thị Kiều L; Sinh ngày: 16/9/1994; Nơi thường trú: ấp Đ, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Cơ quan điều tra xác định những vật chứng trên là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Kiều L nên tiến hành trao trả lại cho bà L nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng để bị hại chuộc lại chiếc xe và bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 01 (một) năm tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt để chấp hành án.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng để bị hại chuộc lại chiếc xe và bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  • Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Đương sự;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Công an huyện Trần Đề;
  • (cơ quan CSĐT; bộ phận HSNVCS; Cơ quan THAHS; Nhà tạm giữ);
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Lưu (HSVA & TA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Công Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 50/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim T được ly hôn với ông Dương Thành S. - Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Nguyễn Thị Kim T và ông Dương Thành S là Dương Nguyễn Khánh V, sinh ngày 18/01/2012 đến khi thành niên (hiện nay cháu V đang sống chung với bà T). Ông Dương Thành S có quyền, nghĩa vụ thăm nom các cháu V mà không ai được cản trở. Ông Dương Thành S không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V của bà Nguyễn Thị Kim T. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kim T không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. - Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét. - Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung, nên không đặt ra xem xét.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger