Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 03 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

---

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hải;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đô;

Ông Lê Thanh Miện.

Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Ước - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đỗ Văn V;

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987; Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12;

    Con ông Đỗ Đình Đ, sinh năm 1959 và bà Đặng Thị Đ1, sinh năm: 1958;

    Vợ: Đỗ Thị H, sinh năm 1989; Bị cáo có 03 con (con lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2;

    Tiền án: Bản án số 39/2020/HSST ngày 23/5/2020 Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” (V được đặc xá ngày 01/9/2022).

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H (Có mặt).

  2. Họ và tên: Trần Thị T, S năm 1996;

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: thôn Y, xã H, huyện S, TP Hà Nội; Nơi ở khi bị bắt: thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;

    Con ông Trần Văn P, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1972;

    Chồng: Tạ Văn T1, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2014; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H (Có mặt).

  3. Họ và tên: Nguyễn Xuân T2;

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1939 (đã chết) và Tạ Thị C, sinh năm 1937; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; bị cáo có 05 con (con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1999); Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 3;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 59/2019/HSST ngày 10/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 10/01/2021, chấp hành xong tiền án phí ngày 21/4/2020, chấp hành xong tiền phạt ngày 21/9/2020;

    Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H (Có mặt).

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Hà Như Q, sinh năm 2001 (vắng mặt).

    HKTT: Thôn H, xã Đ, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã Q, huyện T - Bắc Giang.

  2. Anh Nguyễn Trọng Đ2, sinh năm 2001 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

  3. Anh Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1999 (Có mặt).

    Địa chỉ: TDP V, thị trấn B, huyện H - Bắc Giang;

  4. Anh Trần Văn Đ3, sinh năm 1987 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V- Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 15 phút ngày 10/7/2024, tại nhà nghỉ T7 ở Tổ dân phố V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang kiểm tra hành chính phát hiện: Tại phòng Vip 3 ở tầng 2 của nhà nghỉ có ba người gồm: Đỗ Văn V, sinh năm 1987 ở thôn K, xã Đ, huyện H; Trần Thị T, sinh năm 1996 ở thôn Y, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội và Hà Như Q, sinh năm 2001 ở thôn H, xã Đ, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine thì Cơ quan Công an đến kiểm tra. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Văn V và Trần Thị T. Vật chứng thu giữ gồm:

Thu giữ tại nền gạch trong phòng Vip 3 tầng 2 nhà nghỉ T7:

  • 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ bên trong túi nilon đựng chất bám dính màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp được cho vào phong bì niêm phong dán kín ký hiệu “ QT1”.
  • 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 Việt Nam đồng, trên mặt tờ tiền có chất bám dính chất màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp và 01 tờ tiền mệnh giá 1000 Việt Nam đồng trên mặt tờ tiền có chất bám dính chất màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp. Tất cả được cho vào phòng bì niêm phong dán kín ký hiệu “ QT2”.

Thu giữ của Đỗ Văn V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra, có số sêri 1: 357723107383511, sê ri 2: 357723107383529 lắp sim 1: 0889933933; sim 2: 0528256988 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra có số Imeil: 359871978977685; Imei2: 359871978573427 lắp sim số: 0968451613. Tất cả được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “ĐT Vân”.

Thu giữ của Trần Thị T: 01 Căn cước công dân tên Trần Thị T số [...] và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra có số Imei: 359246067497103 lắp sim số: 0395096072 được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “ĐT T".

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà nghỉ T7, thu giữ: 01 đầu thu camera nhãn hiệu Hikvision màu đen; thu trong camera ở góc nhà trên tầng 2 phát hiện thu giữ 01 nhớ nhãn hiệu Sandish loại 32GB được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “THẺ NHỚ"; thu tại ô thoáng nhà vệ sinh nữ tầng 2: 01 thẻ gửi xe máy tại Trung tâm y tế huyện Y, 01 vỏ sim điện thoại, 01 thẻ nhựa màu trắng được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “THE"; thu tại ngăn dưới tủ lạnh kê ở cuối dãy phòng hát tầng 2 gồm 04 đĩa xứ hình vuông màu trắng được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “ĐIA". T4 tại tầng hầm 01 xe mô tô nhãn hiệu Ari Blade màu đen, BKS 15B2-514.98;

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn V ở thôn K, xã Đ và nhà trọ V xây dựng ở thôn H xã Đ nhưng không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Ngày 11/7/2024, Nguyễn Xuân T2 tự giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone Xs max, vỏ màu đen, số I: 357273094508324.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1970 ở Tổ dân phố V, thị trấn B, huyện H là chủ nhà nghỉ T7.

Kết quả kiểm tra nước tiểu ngày 10/7/2024 xác định: Đỗ Văn V dương tính với chất ma túy MET, KET, MDMA; Hà Như Q dương tính với chất ma túy KET, MDMA, MET; Trần Thị T dương tính với chất ma túy KET; Nguyễn Xuân T2 và Nguyễn Trọng Đ2 âm tính với ma túy.

Ngày 11/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1055 đối với: 01 chai nhựa màu trắng có lắp đậy, ký hiệu “M1” được dán kín, niêm phong, trong chứa chất lỏng màu vàng (nước tiểu) thu của Đỗ Văn V; 01 chai nhựa màu trắng có lắp đậy, ký hiệu “M2” được dán kín, niêm phong, trong chứa chất lỏng màu vàng (nước tiểu) thu của Nguyễn Xuân T2; 01 chai nhựa màu trắng có lắp đậy, ký hiệu “M3” được dán kín, niêm phong, trong chứa chất lỏng màu vàng (nước tiểu) thu của Trần Thị T. Tại kết luận định giám định số 1571/KL-KTHS ngày 17/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Trong các chai nhựa màu trắng, có nắp đậy ký hiệu lần lượt "M1", "M2", "M3" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy MDMA và chất Norketamine, D1 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) thu của Đỗ Văn V. Tìm thấy chất N, D1 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) thu của Trần Thị T. Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) thu của Nguyễn Xuân T2.

Tại kết luận định giám định số 1573/KL-KTHS ngày 17/7/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • Trong 01 phong bì ký hiệu "QT1" đã được niêm phong gửi giám định: Chất màu trắng bám dính trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng.
  • Trong 01 phong bì ký hiệu "QT2" đã được niêm phong gửi giám định: Chất màu trắng bám dính trên 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng. Chất màu trắng bám dính trên 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng là ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng.
  • Trong 01 phong bì ký hiệu "THE" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trên 01 thẻ gửi xe máy tại trung tâm y tế huyện Y; 01 thẻ vỏ sim điện thoại số seri: 89840509241419919914; 01 thẻ nhựa màu trắng, một mặt có số: 0005537495054,3271, không xác định được khối lượng.

Trong 01 thùng cát tông ký hiệu "ĐIA" đã được niêm phong gửi giám định: Không tìm thấy chất ma tuý trên 04 đĩa sứ hình vuông màu trắng (BL 59).

Tại kết luận định giám định số 1584/KL-KTHS ngày 18/7/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Trên 01 đĩa sứ màu trắng hình vuông gửi giám định phát hiện thấy 01 dấu vết đường vân bằng phương pháp quét bột, đường vân màu đen, đủ yếu tố giám định (ký hiệu A). Trên các mẫu gửi giám định còn lại không phát hiện thấy dấu vết đường vân (BL 62) .

Quá trình điều tra, Đỗ Văn V và Nguyễn Thị T5 khai nhận: Khoảng đầu năm 2024, thông qua mạng xã hội, V quen biết với một người phụ nữ tự giới thiệu tên “Huyền” ở thành phố B. Khoảng 13 giờ ngày 10/7/2024, khi V đang trên đường đến Trại giam N1 thuộc huyện T để thăm người nhà thì H3 gọi điện cho V qua ứng dụng Z nói bị chồng đánh nên buồn chán, nghe vậy nên V mời H3 về huyện H để uống bia, tâm sự được H3 đồng ý. Ngay lúc này, V gọi điện cho Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1970 ở Tổ dân phố V, thị trấn B, huyện H là chủ nhà nghỉ kết hợp kinh doanh dịch vụ Karaoke Tuấn H4 để đặt phòng hát nhưng T2 không đồng ý vì quán hát chưa được cấp phép. Đến khoảng 16 giờ, V gọi điện cho H3 thì biết H3 đang cùng 02 người bạn của H3 về huyện H gặp V. Thấy vậy, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Aiblade, biển kiểm soát 15B2 - 541.98 đến nhà nghỉ T7 gặp trực tiếp T2 để tiếp tục thuê phòng hát thì được T2 đồng ý. Sau khi thuê được phòng hát, V điện thoại cho Trần Thị T, sinh năm 1996, ở thôn Y, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội (là nhân viên phục vụ quán hát do V quản lý) bảo T đón rồi đưa H3 đến nhà nghỉ T7 được T đồng ý. V liên lạc lại với H3 bảo đón thêm T và gửi số điện thoại của T cho H3 liên hệ đón T. Lúc này, V nảy sinh ý định rủ H3 và bạn của H3 sử dụng ma túy nên đã điều khiển xe mô tô đến khu công nghiệp Y thuộc huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy của một người đàn ông không quen biết làm nghề xe ôm với giá 1.900.000 đồng rồi cầm ma túy trên tay đi về nhà nghỉ T7, V đi lên tầng 2 vào nhà vệ sinh cất giấu gói ma túy rồi đi về. Sau khi T đón được H3 cùng hai người bạn của H3 là Hà Như Q, sinh năm 2001 ở thôn H, xã Đ, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và người không quen giới thiệu tên L đến nhà nghỉ T7. T nói cho T2 biết là khách của V và được T2 đưa lên phòng hát Vip 3 tại tầng 2 nhà nghỉ. Đến khoảng 17 giờ, V quay lại nhà nghỉ Tuấn H4 nhưng không gặp T2, V đi thẳng lên tầng 2 thấy mọi người vào phòng Vip3, V gọi T ra ngoài bảo chờ ở phòng Vip2 và đi vào nhà vệ sinh lấy túi ma túy cất giấu trước đó đưa cho T rồi bảo T mang vào phòng cho mọi người sử dụng. Sau đó, V vào phòng Vip 3 thấy T, H3 và 02 người phụ nữ không quen biết, V chào H3 cùng bạn của H3 rồi đi về và sẽ quay lại sau. Khi nhận túi ma túy do V đưa cho, T mang vào phòng Vip 3 mở ra thì thấy có 03 viên ma tuý kẹo và túi ma tuý dạng ke nên T lấy một viên ma túy kẹo, bẻ làm 2 phần, đưa cho H3 một phần, H3 đưa ½ viên ma túy vào miệng rồi uống cùng nước cam, phần còn lại để trên mặt bàn thì người tên L cầm lên bẻ làm đôi sử dụng một phần, phần còn lại Q lấy sử dụng. Tiếp đó, T lấy ma túy ke ra xào. T lấy một tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng trong túi sách ra đổ ma túy ke lên tờ tiền, lấy bật lửa có sẵn trong phòng để dầm và hơ ma túy xong đưa cho H3, người tên L và Q sử dụng bằng hình thức hít ma túy vào cơ thể. Khoảng 20 phút sau, T2 vào phòng, thấy ma túy để trên bàn nên nói “không chơi hết thì để ra ngoài” thì người tên L cầm túi ma túy, cùng T2 đi ra ngoài để cất giấu ở giàn lan bên ngoài cửa sổ hành lang phòng hát. Đến khoảng 18 giờ, Nguyễn Trọng Đ2, sinh năm 2001 ở thôn T, xã M, huyện H là nhân viên phục vụ của quán đến, T2 bảo cho Đ2 trong phòng Vip 3 có khách hát để Đ2 theo dõi, thu tiền. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, V một mình quay lại nhà nghỉ đi xe mô tô vào tầng hầm thấy T2 đang làm việc, V chào rồi đi lên phòng hát Vip 3 thấy mọi người đang trong phòng bật đèn nháy nhưng không thấy ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy nên bảo T đi lấy đĩa, T ra ngoài đến chỗ tủ lạnh mở và lấy một đĩa sứ hình vuông, mang vào thì V bảo mang đi hơ nóng, T mang đĩa ra nhà vệ sinh, dùng bật lửa hơ nóng rồi mang trở lại phòng. V hỏi T ma túy để đâu, T nói là ma túy được mang đi cất, người tên L đi ra ngoài tìm nhưng không thấy nên V bảo T gọi điện bảo T2 lên tìm ma túy giúp. T2 đi lên đến vị trí cất giấu ma túy lúc trước nhấc giò lan lên một tay cầm ma túy đưa qua cửa sổ vào bên trong, T đưa tay ra nhận rồi đưa cho V, V cầm túi ma túy đổ vào đĩa và dùng thẻ sim điện thoại dầm, miết ma túy (xào ke), kẻ thành 02 đường và lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn thành tẩu đưa cho H3 sử dụng bằng hình thức hít ma túy vào cơ thể; V tiếp tục sào ke rồi kẻ thành 02 đường lần lượt mời Q, người tên L và T hít xong V là người sử dụng cuối cùng. Sau đó V thấy trên bàn có một phần ma túy kẹo nên V cầm đưa vào miệng sử dụng nốt. Khi sử dụng ma túy xong, V sang phòng Vip 2 nằm, H3 và người tên L đi ra ngoài. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tang vật có liên quan.

Nguyễn Xuân T2 khai nhận: Năm 2019, T2 xây dựng cơ sở cho thuê lưu trú (nhà nghỉ) với 8 phòng ở tầng 3. Đến năm 2022, T2 có hợp đồng cho anh Trần Văn Đ3, sinh năm 1988 ở xã Đ, huyện H thuê lại mặt bằng tầng 2 để mở quán Karaoke lấy tên D2, tuy nhiên không có giấy phép kinh doanh. Khoảng tháng 4/2024, do kinh doanh thua lỗ, anh Đ3 có rủ T2 chung cổ phần để kinh doanh và để T2 đứng tên giấy phép vì là chủ nhà, T2 đồng ý chung 50% cổ phần, với giá 550.000.000 đồng. Sau khi mua lại 50% cổ phần thì T2 và anh Đ3 cùng chung sở hữu và cùng quản lý hoạt động kinh doanh của quán hát và đặt ra mức giá 150.000 đồng/giờ đối với khách thuê hát, 250.000 đồng/giờ đối với khách thuê với mục đích để bay lắc, nghe nhạc. Để việc kinh doanh minh bạch về mặt tài chính cũng như có người phụ giúp trong hoạt động kinh doanh nên thuê anh Đ2 đến ở, giúp việc khi có khách thì đón khách, bố trí phòng hát, lấy đồ (bia, hoa quả...) tính tiền, dọn phòng, ghi chép sổ sách... Toàn bộ hoạt động kinh doanh, quản lý dịch vụ Karaoke đều do T2 trực tiếp thực hiện, anh Đ3 mỗi tháng qua lại quán 3-4 lần. Ngày 09/7/2024, Đ2 xin nghỉ có việc nên toàn bộ việc kinh doanh nhà nghỉ, dịch vụ Karaoke đều do T2 thực hiện. Khoảng 12 giờ ngày 10/7/2024, T2 nhận được điện thoại của V gọi đến nói “Cháu có mấy bà chị khách V1 trên Bắc Giang về chơi, chú cho cháu một phòng cho mấy chị em nó hát”, T2 không đồng ý và nói lại “hát hò gì, đang ngoan để xin cấp phép”. Sau đó V đi xe máy nhãn hiệu Honda Aiblade, một mình đến tiếp tục đặt vấn đề thuê phòng hát, do biết V từ trước và cả nể nên đồng ý cho V thuê phòng. Đến khoảng 16 giờ, khi T2 đang ở tầng hầm thấy có 4 người phụ nữ xuống từ một xe Taxi đi vào nói “Chú ơi, anh V đặt phòng hát ở đây cho chúng cháu vào phòng đi”, T2 nhận ra T vì trước đây T đã làm nhân viên quán hát của anh Đ3. T2 lên, mở cửa cho mọi người phòng Vip 3, T2 bảo T đi lấy đá, lấy cốc xong T2 vào phòng hỏi và biết những người đó ở trên Bắc Giang, khoảng 3 phút sau T mang đá và cốc vào rồi đi ra ngoài ngay, mấy phút sau T2 thấy T đi vào phòng trên tay có cầm một túi nilon màu trắng trong, bên trong có chứa khoảng 3 đến 4 viên màu xám xanh, nghi là ma túy nên T2 nói “ĐM chúng mày định mang ma túy vào nhà tao chơi à, mang ngay ra ngoài”. Thấy T2 nói vậy, thì có một người con gái cầm túi ma túy mang ra tìm chỗ cất giấu rồi đưa gói ma túy ra giàn lan bên ngoài cửa sổ, gần đối diện phòng hát Vip3. Khi đó T2 đang đứng phía sau thì người đó nói “Chú ơi để đây sợ rơi nhỉ”, thấy vậy, T2 vừa kéo chậu lan đặt đè lên gói ma túy vừa nói “mày đặt như thế này thì rơi vào mắt à” xong người đó vào phòng còn T2 xuống tầng 1 để xay thức ăn cho vật nuôi thì thấy Đ2 về, T2 nói phòng Vip 3 có khách hát để Đ2 lên vào sổ và trông nom. Khoảng hơn 19 giờ V đi xe máy vào chỗ T2 đang xay thức ăn cho gia súc, V chào T2 rồi đi thẳng lên tầng 2. Lúc này khoảng 20 giờ, T2 nghe thấy có người gọi “chú ơi, đồ của chúng cháu để đây sao không thấy”, T2 nói lại “của chúng mày để đâu thì để đấy chứ tao làm gì, ăn chẳng ăn, chơi chẳng chơi”, rồi T gọi điện thoại nói “chú ơi sao đồ để đây không thấy”, T2 biết mọi người đang tìm ma túy để sử dụng, thì T2 trèo qua cửa sổ tầng hầm (tầng 1) ra bên ngoài nhà, đi lên cầu thang bên ngoài, lên giàn lan lúc trước dùng một tay nhấc nghiêng chậu lan lên và nói “chúng mày mù à, của chúng mày để đâu vẫn để đấy”, T2 thấy bên trong cửa sổ thấy có một người thò tay qua cửa sổ cầm gói ma túy T2 đưa cho mang vào phòng hát, T2 tiếp tục xuống xay thức ăn cho gia súc. Khoảng 20 phút sau thấy Công an vào kiểm tra, phát hiện tại phòng Vip3 có V, T và mấy người phụ nữ sử dụng ma túy.

Tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của T2: kết quả T2 xác định có số điện thoại 0968.451.xxx thực hiện 03 cuộc gọi vào hồi 11 giờ 52 phút, 15 giờ 56 phút, và 17 giờ 49 phút ngày 10/7/2024 là V gọi để đặt phòng và thông báo khách gần đến nơi; số điện thoại 0395.096.xxx là của T gọi lúc 19 giờ 40 phút ngày 10/7/2024 gọi hỏi xem ma túy để ở đâu (BL 261-266).

Ngày 25/8/2024, tiến hành kiểm tra đầu thu camera đã thu giữ, kết quả chỉ có hình ảnh lưu giữ đến ngày 17/12/2022. Từ ngày 18/12/2022 không có hình ảnh; kiểm tra thẻ nhớ đã xác định chỉ có hình ảnh khu vực quầy lễ tân, không có hình ảnh bên ngoài khu vực lễ tân.

Cơ quan điều tra Công an huyện H tiến hành cho V nhận dạng đối với 03 chiếc thẻ đã thu giữ. Kết quả: V nhận ra chiếc thẻ vỏ sim điện thoại có số seri 98840509241419911994 là chiếc thẻ có hình dáng, màu sắc giống với thẻ V dùng để đảo và kẻ ma túy (BL 198-201).

Kết quả thực nghiệm điều tra 11/7/2024, T2 thực hiện thành thục động tác cất ma túy và lấy ma túy đưa cho T ở dưới chậu lan; V thực hiện thuần thục động tác V đưa gói ma túy cho T, T nhận ma túy, T ngồi trong phòng Vip3 lấy viên ma túy ra bẻ rồi đưa cho người khác và lấy túi nilon chứa ma túy ke đổ ra tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng để sào ke, T dùng tờ giấy A4 đốt để hơ đĩa rồi mang vào cho V. T cầm gói ma túy đưa cho V, V nhận ma túy T đưa, V đổ ma túy ra đĩa và dùng thẻ để sào xong cầm đĩa đưa ma túy cho T sử dụng rồi V cầm đĩa chứa ma túy tự sử dụng (BL 96-106).

Về nguồn gốc ma túy các đối tượng sử dụng V khai nhận đã mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực KCN Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nhưng không nhớ cụ thể là ở chỗ nào nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với hai người phụ nữ tên “H3” và tên “L” là người cùng tham gia sử dụng ma túy với V, T và Q. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của H3 và L nên không đủ căn cứ để xem xét, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Như Q tại phòng Vip3 nhà nghỉ T7. Ngày 09/10/2024, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với anh Nguyễn Trọng Đ2 là người được T2 và anh Đ3 thuê để phụ giúp việc, đón khách, bố trí phòng hát, lấy đồ, tính tiền, dọn phòng, ghi chép sổ sách khách đến hát, Đ2 không giúp sức cho V, T và T2 trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không vi phạm pháp luật.

Vật chứng của vụ án Cơ quan điều tra xác định gồm:

  • 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ có bám dính chất màu trắng nghi là ma tuý; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trên mặt tờ tiền có chất bám dính chất màu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng trên mặt có bám dính chất màu trắng; 01 thẻ gửi xe máy tại Trung tâm y tế huyện Y, 01 vỏ sim điện thoại, 01 thẻ nhựa màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng lắp sim số: 0968451613 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra lắp sim 1: 0889933933; sim 2: 0528256988 của V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng lắp sim số: 0395096072 là điện thoại T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, vỏ màu đen, số Imel: 357273094508324 là của T2.
  • 01 Căn cước công dân tên Trần Thị T là giấy tờ cá nhân của T.
  • 01 đầu thu camera nhãn hiệu Hikvision màu đen, 01 nhớ nhãn hiệu Sandish loại 32GB, 04 đĩa xứ hình vuông màu trắng là đồ vật của nhà nghỉ do T2 quản lý không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Ari Blade màu đen, BKS 15B2- 514.98 thu giữ của V, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Ari Blade này là vật chứng trong vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 11/3/2017 tại phường H, quận H, thành phố Hải Phòng được Công an quận H ra Thông báo truy tìm số 65 ngày 25/5/2017. Chiếc xe trên do anh Phạm Văn K - sinh năm 1984 ở thôn H, xã Đ, huyện H mua của một người đàn ông không quen biết năm 2023. Đến tháng 6/2024, anh K cho V mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 26/9/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện H đã bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng để điều tra theo thẩm quyền

Tất cả đã được nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang các bị cáo Đỗ Văn V, Trần Thị T và Nguyễn Xuân T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKS-HH ngày 29 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Đỗ Văn V, Trần Thị T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T2 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo Đỗ Văn V, Trần Thị T và Nguyễn Xuân T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Đại diện Viện sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về căn cứ pháp luật và hình phạt:

1.1. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đỗ Văn V từ 08 năm đến 08 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo .

1.2. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Thị T từ 07 năm 04 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

1.3. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Xuân T2 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 08 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ đựng mẫu chất màu trắng bám dính là ma tuý loại Ketamine được sử dụng hết trong quá trình giám định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “QT1” hoàn lại sau giám định.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trên mặt tờ tiền có chất bám dính chất màu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng trên mặt có bám dính chất màu trắng. Tất cả được niêm phong trong phòng bì ký hiệu “QT2” hoàn lại sau giám định.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số Imei: 359871978977685 được niêm phong trong một phong bì.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, vỏ màu đen, số Imel: 357273094508324, được niêm phong trong một phong bì.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 359246067497103 được niêm phong trong một phong bì.
  • Trả lại bị cáo V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, có số seri 1: 357723107383511, số seri 2: 357723107383529, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại bị cáo T 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thị T.
  • Trả lại bị cáo T2 01 đầu thu camera nhãn hiệu Hikvision màu đen, model DS-7216HUHI-K2 được niêm phong trong một thùng cát tông và 01 nhớ nhãn hiệu Sandish loại 32GB được niêm phong trong một phong bì.
  • Tịch thu tiêu hủy 04 đĩa xứ hình vuông màu trắng được niêm phong trong một thùng cát tông.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ gửi xe máy tại Trung tâm y tế huyện Y, 01 vỏ sim điện thoại, 01 thẻ nhựa màu trắng được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “THẺ”.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:

Các bị cáo V, T và T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[ 2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập nhưng vắng mặt, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử các bị cáo trong vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Xét hành vi của bị cáo thì thấy: Tại phiên tòa các bị cáo một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được đưa ra xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 17 giờ đến 21 giờ 30 phút, ngày 10/7/2024, tại phòng hát Vip3 tầng 2 nhà nghỉ T7 thuộc Tổ dân phố V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang Đỗ Văn V là người thuê phòng hát, cung cấp ma túy, trực tiếp chỉ đạo Trần Thị T thực hiện một số hành vi đưa trái phép ma túy vào cơ thể của nhau và cho những người khác sử dụng gồm: Hà Như Q và 2 phụ nữ tên H3 và L. Trần Thị T mặc dù không phải góp tiền mua ma túy nhưng là người trực tiếp mang ma túy vào phòng hát, chuẩn bị công cụ, phương tiện và đưa ma túy cho các đối tượng sử dụng. Nguyễn Xuân T2 sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình cho các đối tượng thuê phòng hát để sử dụng ma túy, đồng thời có hành vi giúp các đối tượng cất giấu ma túy, sau đó trực tiếp lấy số ma túy đã cất giấu đưa cho T mang vào phòng để các đối tượng sử dụng trái phép ma túy. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Đỗ Văn V, Trần Thị T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T2 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy "quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của việc sử dụng chất ma túy nhưng chỉ vì ham chơi, muốn thể hiện mình các bị cáo đã mua ma túy để sử dụng và cung cấp, giúp sức cho nhiều người khác sử dụng trái phép. Bị cáo T2 mặc dù không sử dụng ma túy nhưng biết các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng hát thuộc quyền quản lý của mình nhưng không ngăn cản mà còn có hành vi giúp sức cất giấu và đưa lại ma túy cho các đối tượng sử dụng tại nơi thuộc quyền quản lý của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an, sức khỏe con người, mà còn làm tha hóa thanh thiếu niên, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự và có hình phạt tù tương xứng đối với hành vi, vai trò phạm tội của từng bị cáo.

[5] Xét vai trò đồng phạm của bị cáo V và bị cáo T trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thì thấy: Bị cáo V là người khởi xướng, thuê địa điểm đặt phòng và trực tiếp liên hệ mua và cung cấp ma túy cho các đối tượng sử dụng nên giữ vai trò đầu vụ. Bị cáo T mặc dù không phải góp tiền mua ma túy nhưng là người giúp sức tích cực, chuẩn bị công cụ, để đưa ma túy cho người khác sử dụng nên T giữ vai trò sau bị cáo V.

Riêng bị cáo T2 không có sự câu kết, bàn bạc gì với bị cáo V, bị cáo T và các đối tượng khác trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng biết các đối tượng thuê phòng hát để sử dụng ma túy nhưng không ngăn cản mà còn có hành vi giúp sức cất giấu và đưa lại ma túy cho các đối tượng sử dụng tại nơi thuộc quyền quản lý của mình nên hành vi của bị cáo T2 là độc lập và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

[6]. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo V đã từng bị kết án, cụ thể: Tại Bản án số 39/2020/HSST ngày 23/5/2020 Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt đối với Đỗ Văn V 03 năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, V được đặc xá ngày 01/9/2022. Tính đến ngày 10/7/2024 (ngày bị cáo có hành vi phạm tội bị xét xử trong vụ án này) chưa được xóa án tích. Do vậy, bị cáo V phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo T và T2 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[8]. Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo V, bị cáo T2 là người có nhân thân xấu, trong đó bị cáo V đã bị kết án về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” chưa được xóa án tích. Bị cáo T2 đã từng bị kết án về tội đánh bạc, mặc dù đã được xóa án tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 70 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội. Đối với bị cáo T chưa từng bị kết án; không có tiền án, tiền sự.

[9]. Sau khi xem xét hành vi, vai trò, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[10]. Xét về hình phạt bổ sung: Các bị cáo V, T phạm tội không mang tính vụ lợi. Bị cáo T2 mặc dù cho các bị cáo sử dụng trái phép ma túy tại địa điểm do mình quản lý nhưng không nhằm thu lợi trực tiếp từ việc cho các đối tượng sử dụng ma túy. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[11]. Về hành vi của đối tượng liên quan:

[11.1]. Về nguồn gốc ma túy các đối tượng sử dụng V khai nhận đã mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Khu Công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nhưng không nhớ cụ thể là ở chỗ nào nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý là có cơ sở.

[11.2]. Đối với hai người phụ nữ tên “H3” và tên “L” là người cùng tham gia sử dụng ma túy với V, T và Q nhưng trước khi Công an đến kiểm tra hành chính H3 và L đã ra về. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của H3 và L nên không đủ căn cứ để xem xét, xử lý.

[11.3]. Đối với Hà Như Q không có hành vi giúp sức, hỗ trợ cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Như Q tại phòng Vip3 nhà nghỉ Tuấn H4 là do các đối tượng cung cấp cho sử dụng, không có sự bàn bạc, không phải trả tiền. Do vậy, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng.

[11.4]. Đối với Nguyễn Trọng Đ2 là người được bị cáo T2 và anh Trần Văn Đ3 thuê để phụ giúp việc, ghi chép sổ sách khi khách đến hát, Đ2 không giúp sức cho V, T và T2 trong việc tổ chức và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy nên không phải là đồng phạm trong vụ án này.

[11.5]. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Ari Blade màu đen, BKS 15B2-514.98 thu giữ của bị cáo V, trong quá trình điều tra xác định chiếc xe này là vật chứng trong vụ “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 11/3/2017 tại phường H, quận H, thành phố Hải Phòng được Công an quận H ra Thông báo truy tìm số 65 ngày 25/5/2017. Chiếc xe này do anh Phạm Văn K, sinh năm 1984 ở thôn H, xã Đ, huyện H mua của một người đàn ông không quen biết năm 2023. Đến tháng 6/2024, anh K cho V mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 26/9/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện H đã bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng để điều tra và xử lý theo thẩm quyền là đúng nên không phải xử lý trong vụ án này.

[12]. Về vật chứng và tài sản bị tạm giữ:

  • Đối với 01 phong bì ký hiệu "QT1" đựng chất màu trắng bám dính trong 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý loại Ketamine được sử dụng hết trong quá trình giám định là vật dụng đựng ma túy để các bị cáo sử dụng trái phép nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng. Tất cả được niêm phong trong phòng bì ký hiệu “ QT2” là công cụ, phương tiện để các đối tượng sử dụng ma túy nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, có số seri 1: 357723107383511, số seri 2: 357723107383529 của bị cáo V không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho V nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số Imei: 359871978977685 của bị cáo V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, vỏ màu đen, số Imel: 357273094508324 của bị cáo T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 359246067497103 của bị cáo T đều có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thị T là giấy tờ tùy thân của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo T.
  • Đối với 01 đầu thu camera nhãn hiệu Hikvision màu đen, model DS-7216HUHI-K2 và 01 nhớ nhãn hiệu Sandish loại 32GB thu giữ tại nhà nghỉ T7 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại bị cáo T2.
  • Đối với 04 đĩa xứ hình vuông màu trắng được niêm phong trong một thùng cát tông là tài sản có giá trị nhỏ và cũng là công cụ để các đối tượng sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 thẻ gửi xe máy tại Trung tâm y tế huyện Y, 01 vỏ sim điện thoại, 01 thẻ nhựa màu trắng được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “THẺ” là tài sản không có giá trị lớn nên tịch thu tiêu hủy.

[13] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:

Buộc các bị cáo V, T và T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ pháp luật và hình phạt:

1.1. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn V 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo .

1.2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị T 07 (Bảy) năm 04 (B) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

1.3. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T2 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ đựng mẫu chất màu trắng bám dính là ma tuý loại Ketamine được sử dụng hết trong quá trình giám định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “QT1” hoàn lại sau giám định.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trên mặt tờ tiền có chất bám dính chất màu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng trên mặt có bám dính chất màu trắng. Tất cả được niêm phong trong phòng bì ký hiệu “QT2” hoàn lại sau giám định.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số Imei: 359871978977685 được niêm phong trong một phong bì.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, vỏ màu đen, số Imel: 357273094508324, được niêm phong trong một phong bì.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 359246067497103 được niêm phong trong một phong bì.
  • Trả lại bị cáo V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, có số seri 1: 357723107383511, số seri 2: 357723107383529, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại bị cáo T 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thị T.
  • Trả lại bị cáo T2 01 đầu thu camera nhãn hiệu Hikvision màu đen, model DS-7216HUHI-K2 được niêm phong trong một thùng cát tông và 01 nhớ nhãn hiệu Sandish loại 32GB được niêm phong trong một phong bì.
  • Tịch thu tiêu hủy 04 đĩa xứ hình vuông màu trắng được niêm phong trong một thùng cát tông.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ gửi xe máy tại Trung tâm y tế huyện Y, 01 vỏ sim điện thoại, 01 thẻ nhựa màu trắng được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “THẺ”.

(Toàn bộ đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 85/QĐ-VKS-HH ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:

Buộc các bị cáo V, T và T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - Công an huyện Hiệp Hòa;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - Bị cáo; người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Văn Hải

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Vân Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger