Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới

Ông Trần Văn Nam

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Công - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lại Văn H, tên gọi khác: không; sinh ngày 13/7/1995, tại huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn H1 và bà Vũ Thị B; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân:
    • - Ngày 29/5/2013, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tổng hợp với 01 tháng 22 ngày tù chưa chấp hành của Bản án ngày 29/5/2013, hình phạt chung là 16 tháng 22 ngày tù. Chấp hành xong ngày 12/10/2014.
    • - Ngày 17/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 04/2/2017.
    • - Ngày 22/9/2012, Công an xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 07/8/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

2

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn C, tên gọi khác: không; sinh ngày 04/7/1990, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn K, xã V, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân công ty T3; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; vợ: Nguyễn Thị V; có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 01/9/2011, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương xử phạt 8 năm 6 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 31/8/2015; bị cáo bị bắt quả tang 07/8/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Nguyễn Thị V; sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn K, xã V, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  • - Ông Nguyễn Văn T2; sinh năm 1959; nơi cư trú: khu G, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người chứng kiến:

  • - Ông Đỗ Tiến V1 và ông Nguyễn Văn C1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 14 giờ ngày 07/8/2024, Nguyễn Văn C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi gắn sim số 0971.079.642, liên hệ qua ứng dụng mạng xã hội ZALO với Lại Văn Hường hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý loại Methamphetamine. H nảy sinh ý định mua ma túy về bán cho C kiếm lời nên đồng ý bán và hẹn C đến quán nước vỉa hè thuộc tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng để giao dịch mua bán. Sau đó, H đi đến khu vực Cầu Q, thành phố Hải Phòng, gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 túi ma tuý loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng, rồi chia thành 02 túi nhỏ, mục đích để bán cho C 01 túi và cất giấu 01 túi để bán.

Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát (BKS) 14Z1-011.57 đi đến điểm hẹn gặp H. H đưa C 01 túi ma tuý và nhận của C 1.000.000 đồng. Sau khi mua, C cầm túi ma túy trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô đi về tìm nơi sử dụng. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi C đi đến đoạn đường dân sinh thuộc khu Y, phường Y, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), thì bị Tổ công tác của Công an thị xã Đ (nay là thành phố Đ) phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của C: 01 túi nilon kích thước (6.5x4)cm chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi gắn sim số 0971.079.642 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, BKS 14Z1 - 011.57.

Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan điều tra ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lại Văn H, thu giữ trong túi quần bên phải của H: 01 túi nilon kích thước (4x7)cm chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu

3

M2) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huewei Enjoy, gắn 02 sim số 0868.222.049 và 0832.925.791.

Tại bản Kết luận giám định số 1246 ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật ký hiệu M1, M2 gửi giám định đều là ma tuý, loại Methamphetamine; có khối lượng M1 là 0,436g (không phẩy bốn ba sáu gam) và M2 là 0,967g (không phẩy chín sáu bảy gam).

(Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Quá trình điều tra, Lại Văn H và Nguyễn Văn C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngoài ra, tại phiên tòa:

Bị cáo Lại Văn H khai: số ma túy bị thu giữ trong túi quần bên phải của bị cáo là số ma túy được bị cáo sẻ lại khi mua ma túy cho C ngày 07/8/2024, bị cáo tàng trữ để bán cho người nào có nhu cầu sử dụng để kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huewei Enjoy, gắn 02 sim số 0868.222.049 và sim số 0832.925.971 đã bị thu giữ là điện thoại bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy cho C. Số tiền 1.000.000 đồng bị cáo bán ma túy cho C, bị cáo đã sử dụng để trả tiền xe ôm và tiêu xài cá nhân hết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị V có lời khai: chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, ELEGANT màu sơn đỏ bạc, biển kiểm soát 14Z1- 01157 là xe của bố chị ông Nguyễn Văn T2 cho chị để đi lại. Chiếc xe này chị cho chồng chị là bị cáo C mượn để đi làm, chị không biết bị cáo C sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy. Ngày 28/10/2024, chị đã được Cơ quan cảnh sát điều tra C (nay là thành phố) Đông Triều trả lại chiếc xe và không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra, đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện: ông là bố đẻ chị Nguyễn Thị V. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, ELEGANT màu sơn đỏ bạc, biển kiểm soát 14Z1-01157 là xe mô tô ông mua tháng 6/2011, đăng ký xe tên Nguyễn Văn T2. Chiếc xe này ông đã cho con gái ông là Nguyễn Thị V để đi lại.

Người chứng kiến ông Đỗ Tiến V1 và ông Nguyễn Văn C1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện: khoảng 16 giờ 45 phút ngày 07/8/2024, các ông được lực lượng Công an mời đến đoạn đường dân sinh gần đường tàu thuộc khu Y, phường Y, thị xã (nay là thành phố) Đông Triều để chứng kiến việc Công an lập biên bản bắt quả tang đối với 01 (một) nam thanh niên có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ, thu giữ trong lòng tay trái của C 01(một) túi nilon màu trắng được cuộn lại buộc bằng dây nịt, bên trong túi nilon có chất tinh thể màu trắng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh gắn sim số 0971.079.642; 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, gắn biển kiểm soát 14Z1-011.57. C khai số ma túy trên C mua của H mục đích để sử dụng. Công an tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật.

4

Tại Cáo trạng số: 2446/CT-VKSĐT ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố bị cáo Lại Văn H, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn C, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

*) Về trách nhiệm hình sự:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lại Văn H từ 36 - 42 tháng tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024.
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 18 - 21 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

*) Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1246/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q và 03 sim điện thoại 0971.079.xxx; 0823.925.791; 0868.222.049.
  • - Tịch thu của Lại Văn H số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Enjoy 20 Pro màu xanh.

Lưu trong hồ sơ vụ án 04 đĩa DVD hỏi cung các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,

5

người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, với biên bản bắt người phạm tội quả tang do C (nay là thành phố) Đông Triều lập hồi 16 giờ 50 phút ngày 07/8/2024 tại khu Y, phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; với vật chứng thu giữ của các bị cáo, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/8/2024, tại tổ dân phố C, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng, Lại Văn H có hành vi bán trái phép 0,436g (không phẩy bốn ba sáu gam) ma tuý, loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn C. Sau khi mua, C cất giấu số ma túy trên để sử dụng và đi đến đoạn đường dân sinh thuộc khu Y, phường Y, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, H còn tàng trữ trái phép 0,967g (không phẩy chín sáu bảy gam) ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy H bán và cất giấu để bán là 1,403 gam Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Lại Văn H đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, nên vẫn cố ý phạm tội. Do đó, các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[3] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án:

Các bị cáo chịu trách nhiệm độc lập về hành vi phạm tội của mình.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo Lại Văn H ngày 29/5/2013, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 20/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tổng hợp với 01 tháng 22 ngày tù chưa chấp hành của Bản án

6

ngày 29/5/2013, hình phạt chung là 16 tháng 22 ngày tù; ngày 17/11/2015, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 04/2/2017; ngày 22/9/2012, Công an xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong. Bị cáo Nguyễn Văn C ngày 01/9/2011, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương xử phạt 8 năm 6 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 31/8/2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Số tiền 1.000.000 đồng bị cáo Lại Văn H bán ma túy cho Nguyễn Văn C là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước

Số ma túy hoàn lại sau giám định, xét thấy là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ và 03 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy; 02 điện thoại của H và C dùng để liên lạc với nhau, liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Những tình tiết khác trong vụ án: đối với người đàn ông bán ma túy cho H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, ELEGANT màu sơn đỏ bạc, biển kiểm soát 14Z1-01157, đăng ký xe tên Nguyễn Văn T2 là tài sản của chị Nguyễn Thị V. Chị V không biết bị cáo C sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị V chiếc xe trên.

Cần lưu trong hồ sơ vụ án 04 đĩa DVD hỏi cung các bị cáo.

[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

7

  1. Về tội danh và hình phạt:
    • - Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lại Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2024.
    • - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 (mười tám) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2024.
  2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1246/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q và 03 sim điện thoại 0971.079.xxx; 0823.925.791; 0868.222.049.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Enjoy 20 Pro màu xanh.
    • (Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số 21 ngày 05 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).
    • - Tịch thu bị cáo Lại Văn H số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
  3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Các bị cáo Lại Văn H, Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Đông Triều;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Công an thành phố Đông Triều;
  • - Chi cục THADS thành phố Đông Triều;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Nhà tạm giữ CA thành phố Đông Triều;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lại Văn H cùng đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger