Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 21/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chương; ông Vũ Huy Trí

Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cường - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 21/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 332/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:

Lê Ngọc H

(Tên gọi khác: Đ), sinh ngày 14/5/1994 tại huyện C, tỉnh Gia Lai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Thôn I, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 8/12; Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Cha tên : Lê Ngọc H1 (sinh năm: 1961), mẹ tên Đinh Thị H2 (sinh năm: 1962); vợ tên Mai Thùy G (sinh năm: 1996). Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 09/3/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vật liệu nổ” và 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, tổng hợp hình phạt là 18 tháng tù. Chấp hành án tại Trại giam G1 đến 28/02/2021 ra trại về địa phương làm ăn sinh sống (đã được xóa án tích).

Ngày 20/8/2024 bị Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt là 06 năm tù theo Bản án số 162/2024/HS-ST.

Ngày 06/01/2024 bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh A K, sinh năm 2003. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • Anh Lê Đức L, sinh năm 1983. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, (tạm giam) Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
  • Anh Mai Huy H3, sinh năm 1995. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh G. Có mặt.
  • Chị Y Linh Đ1, sinh năm 2002; địa chỉ: Phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 12/2023, có một người thanh niên dân tộc thiểu số, tự giới thiệu tên J (không biết thông tin, địa chỉ cụ thể, khoảng 20 tuổi, ở tỉnh Kon Tum) đến gặp H3 trên đường B, Tp . và cầm cố cho Lê Ngọc H 01 (một) khẩu súng ngắn (súng ZP.5, dạng ổ quay, thân súng bằng nhựa, trên thân súng có các ký hiệu bằng chữ và số: “SMITH&WESSON”, “XIAO YUE LIANG”, “MADE IN CHINA”, “ZP.5”, nòng súng bằng kim loại, ổ đạn bằng kim loại, bên trong ổ chứa đạn có 03 viên đạn, vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu xám, kích thước 2,3 cm x 0,5cm với số tiền 1.500.000 đồng và J hẹn đúng 15 ngày quay lại lấy súng đạn và thanh toán số tiền 1.700.000 đồng (bao gồm cả tiền gốc và lãi suất cho H). Đến ngày 05/01/2024, J vẫn chưa quay lại gặp H để thanh toán tiền và lấy súng đạn. Vì H cũng thích có 01 khẩu súng ngắn ổ quay để mang theo người, nên mỗi khi đi đâu thì H đều mang theo khẩu súng trên và để vào trong túi xách hoặc cất trong người.

Trong cuộc sống hàng ngày, Lê Ngọc H có mối quan hệ quen biết với A K (sinh năm: 2003, trú tại: Thôn K, xã Đ, Tp ., tỉnh Kon Tum) nên H thường dẫn A K đi phụ làm công việc bốc vác cây lồ ô cùng với H. Ngoài ra, thông qua các mối quan hệ ngoài xã hội tại địa bàn tỉnh Kon Tum thì H quen biết với Lê Đức L (sinh năm: 1983, trú tại: Tổ B, phường Q, Tp ., tỉnh Kon Tum).

Sáng ngày 05/01/2024, A K đi cùng Lê Ngọc H đến tỉnh Gia Lai để phụ H làm công việc bốc vác cây lồ ô. Lúc này, Lê Đức L dự định đi xuống Tp ., tỉnh Gia Lai bằng xe máy của L nên H nói A K đi xe máy của L, còn L lên xe ô tô để H chở. Sau đó, H lái xe ô tô chở L đi đến Tp ..

Khi đi đến đoạn đường tránh huyện C (gần ngã 3 Y, huyện C, tỉnh Gia Lai) thì có lực lượng Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ và ra hiệu lệnh dừng xe ô tô của H nên H dừng xe ô tô vào lề đường, chờ lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra giấy tờ xe. Vì trên xe ô tô có mang theo súng đạn, sợ bị bắt, nên H lợi dụng lúc lực lượng giao thông đang kiểm tra xe ô tô khác không để ý xe của H, nên H đã lái xe đi vào đường tránh huyện C, đi được khoảng 500 m thì rẽ vào đường hẻm đi vào rẫy cao su và cà phê của người dân tìm chỗ đậu xe nhằm mục đích trốn tránh. L xuống xe ô tô và gọi điện thoại cho một người tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) đến đón, khoảng 20 phút sau thì người tên D đến chở L đi, còn H ở lại, chờ lực lượng Cảnh sát giao thông không thực hiện nhiệm vụ tuần tra nữa thì H sẽ tiếp tục lái xe ô tô đi về Tp ..

Tuy nhiên, H chờ khoảng một tiếng sau nhưng lực lượng Cảnh sát giao thông vẫn đang làm nhiệm vụ nên H gọi xe taxi chở H về xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai, còn xe ô tô H để lại trong rẫy cà phê của người dân. Đến chiều cùng ngày, H và A K đi xe máy của L lên lại vị trí cất xe ô tô để Hoàng lái ô tô đi về nhà, còn A K đi xe máy của L đi theo sau xe ô tô của H và cùng về nhà H ở thôn I, xã B, huyện C nghỉ ngơi.

Khoảng 17 giờ cùng ngày, L đi xe taxi xuống đến khu vực đồi chè xã B, huyện C (cách nhà H khoảng 05 km) và chờ H mang xe máy đến trả cho L, sau đó, L đi xe máy về Tp ..

Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, L điện thoại cho H đến Tp . nhậu với L và dặn H cất túi ma tuý L giấu dưới tấm lót sàn ở dưới chân ghế phụ xe ô tô của H. Theo yêu cầu của L thì H lấy túi ma tuý đựng trong túi ni lông giấu dưới tấm lót sàn ghế phụ, rồi bỏ vào ngăn ngoài túi da màu đen của H và mang theo để trên xe ô tô. Sau đó, H lái xe ô tô, chở A K cùng đi đến Tp ., khi đi đến đường H thuộc phường P, Tp . thì H lái xe đến địa chỉ E H, Tp . đón Mai Huy H3 (sinh năm: 1995, trú tại: 5 H, tổ B, phường P, Tp ., là bạn của H3, làm nghề thợ xăm) để xăm hình cho H3, sau đó H3 chở đi cùng đến địa chỉ ở gần số nhà G T, phường C, Tp. gặp L và ngồi ăn khuya.

Đến khoảng gần 01 giờ sáng ngày 06/01/2024, H3 cùng L, A K và Mai Huy H3 thuê nhà nghỉ B, địa chỉ: A đường T, Tp., tỉnh Gia Lai để nghỉ qua đêm. Khi đến nhà nghỉ B, Lê Ngọc H thuê phòng 305 cho Lê Ngọc H, Mai Huy H3 và A K cùng nghỉ, còn L thuê phòng 306. Tại phòng 305, do Lê Ngọc H buồn ngủ nên đi ngủ trước. Trước khi ngủ, H nói với A K là “có ma tuý ở trong túi xách da màu đen, có sử dụng thì lấy mà sử dụng”, sau đó H đi ngủ. A K thấy Mai Huy H3 có mang theo dụng cụ để sử dụng ma tuý nên A K lấy túi ma tuý ở ngăn ngoài túi da màu đen của H3 và trích 01 phần ma tuý ra túi ni lông khác để A K và Mai Huy H3 sử dụng. Túi ma tuý còn lại, A K cất lại vào ngăn ngoài túi da màu đen của Lê Ngọc H. Sau đó, A K và Mai Huy H3 cùng sử dụng số ma tuý A K đã trích ra nhưng cả 02 sử dụng không hết nên A K cất số ma tuý còn lại vào túi quần của A K đang mặc rồi cả 2 cùng đi ngủ. Đến 07 giờ 30 phút ngày 06/01/2023, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an T phối hợp với Công an phường P, Tp . kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ B thì phát hiện tại phòng 305, các đối tượng Lê Ngọc H, A K và Mai Huy H3 trước đó có sử dụng ma tuý nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình khám xét ngoài đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy còn thu giữ thu giữ 02 khẩu súng cùng 09 viên đạn Lê Ngọc H cất giấu trong túi xách da màu đen của H.

Ngày 02/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố P đã chuyển nguồn tin về việc Lê Ngọc H có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh G để giải quyết theo thẩm quyền.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) khẩu súng ngắn (dạng ổ quay) dài 20 cm, súng có đầy đủ các bộ phận; thân súng bằng nhựa, trên thân súng có các ký hiệu chữ và số như sau: "SMITH & WESSON”, “XIAO YUE LIANG”, “MADE IN CHI NA”, “ZP-5”, bên trong nòng súng bằng kim loại, có ổ đạn bằng kim loại.
  • 01 (một) khẩu súng ngắn (dạng ổ quay) dài 13 cm, bằng kim loại màu đen, súng có đầy đủ các bộ phận, trên thân súng không có các ký hiệu.
  • 09 (chín) viên đạn thể thao cỡ (95,6 x 15,6) mm.
  • 02 (hai) vật có hình dạng giống lựu đạn.

Tại kết luận giám định số 104/KL-KTHS, ngày 19/01/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận:

  • 02 (hai) khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1 và A2) nguyên bản là súng ngắn đồ chơi kiểu ổ quay được độ chế thành súng ngắn ổ quay bắn đạn cỡ 5,6 mm. Hiện tại 02 khẩu súng ghi trên sử dụng bắn được và thuộc vũ khí quân dụng.
  • 09 (chín) viên đạn trong ổ xoay của 02 (hai) khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A1 và A2) là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm. Hiện tại các viên đạn sử dụng bắn được bằng 02 (hai) khẩu súng ghi trên và thuộc vũ khí thể thao. (09 viên đạn đã được sử dụng hết trong quá trình giám định).
  • Đối với 02 vật giống lựu đạn: Ngày 09/01/2024, Công an T có công văn số 162/CV-CSMT đề nghị Trung tâm X phối hợp xử lý kiểm tra, tháo rời các bộ phận vật liệu nổ để đảm bảo phục vụ các hoạt động điều tra. Ngày 11/01/2024, Trung tâm xử lý bom mìn và môi trường/Quân đoàn 3 có công văn trả lời: 02 vật có hình dạng giống lựu đạn, gồm 01 vật hình cầu, có hình dạng giống lựu đạn màu cam đây là mô hình lựu đạn, được sử dụng trong huấn luyện bộ binh, không có tính năng tác dụng gây nổ, đảm bảo an toàn; 01 vật hình cầu có hình dạng giống lựu đạn màu xám có kết cấu hàn kim loại cố định, không có tính năng tác dụng của lựu đạn, không có khả năng gây nổ, đảm bảo an toàn. Vì vậy, không cần phải trưng cầu giám định 02 vật giống lựu đạn.

* Việc xử lý vật chứng:

Ngày 24/6/2024 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh G đã bàn giao 02 khẩu súng ngắn cho Ban chỉ huy quân sự tỉnh G quản lý theo quy định.

Tại Cáo trạng số 140/CT-VKSGL-P1 ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

2. Diễn biến tại phiên toà:

  • Bị cáo Lê Ngọc H thừa nhận hành vi phạm tội, thấy hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mai Huy H3 khai không biết không biết Lê Ngọc H tàng trữ súng, chỉ đến khi Công an kiểm tra mới biết.
  • Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lê Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Căn cứ khoản 1 Điều 304, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Lê Ngọc H từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử lý đối với vật chứng vụ án:

Tịch thu, tiêu huỷ 02 vật có hình dạng giống lựu đạn.

Tiếp tục giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh G quản lý, tiêu huỷ theo quy định của pháp luật đối với 02 khẩu súng là vũ khí quân dụng.

Về án phí: Buộc Lê Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 06/01/2024, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an T phối hợp với Công an phường P, thành phố P kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ B, thành phố P thì phát hiện các đối tượng Lê Ngọc H, A K và Mai Huy H3 trước đó có sử dụng ma tuý nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời qua kiểm tra, phát hiện thu giữ 02 khẩu súng trong túi của Lê Ngọc H. Qua kết quả giám định xác định 02 khẩu súng này là vũ khí quân dụng.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Ngọc H thừa nhận hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Lê Ngọc H với hành vi tàng trữ 02 khẩu súng là vũ khí quân dụng phạm vào tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như trên là có căn cứ, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Ngọc H đã xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng của Nhà nước về vũ khí quân dụng, gây nguy hiểm cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và hình phạt:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Ngọc H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Về hình phạt: Bị cáo H nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo H là người có nhân thân xấu, từng bị xét xử về các tội “Sử dụng trái phép vật liệu nổ” và tội “Hủy hoại tài sản”; nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần phải xử phạt nghiêm khắc, nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về vật chứng:

Đối với 09 viên đạn thể thao đã được sử dụng hết trong quá trình giám định nên không xem xét.

Đối với 02 vật có hình dạng giống lựu đạn, không có tính năng tác dụng của lựu đạn, không có khả năng gây nổ nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 02 khẩu súng là vũ khí quân dụng, tiếp tục giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh G quản lý, tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về các đối tượng và tình tiết khác:

  • - Đối với đối tượng Lê Đức L (sinh năm: 1983, trú tại: Tổ B, phường Q, Tp ., tỉnh Kon Tum): Quá trình điều tra, Lê Ngọc H khai khẩu súng ngắn (dạng ổ quay) dài 13 cm, bằng kim loại màu đen, súng có đầy đủ các bộ phận cùng 06 viên đạn thể thao mà Công an thành phố P thu giữ là của Lê Đức L. Nhưng L không thừa nhận và ngoài lời khai của H thì không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh khẩu súng trên là của Lê Đức L. Do đó, không đủ tài liệu, chứng cứ để xác định Lê Đức L có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
  • - Đối với đối tượng tên J: H khai súng của H là do J đưa nhưng không cung cấp được thông tin nhân thân, lai lịch của J nên không có cơ sở điều tra, xác minh.
  • - Đối với hành vi tàng trữ trái phép 09 viên đạn thể thao của Lê Ngọc H: Do H chưa bị xử phạt hành chính và cũng chưa bị kết án về một trong các hành vi về tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, hoặc công cụ hỗ trợ” nên hành vi này của H không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao” quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 06 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Buộc bị cáo Lê Ngọc H chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là:

09 (chín) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.

3. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • 02 vật có hình dạng giống lựu đạn, gồm: 01 vật hình cầu, có hình dạng giống lựu đạn màu cam; 01 vật hình cầu có hình dạng giống lựu đạn màu xám: Cả 02 vật trên được đựng trong hộp giấy, dán kín, bên ngoài của Trung tâm xử lý bom mìn và môi trường /Quân đoàn 3 và có các chữ ký của Lương Xuân Đ2 và Nguyễn Đại H4 (bên ngoài ghi “Số 6”).
  • (Các vật nêu trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 07/2025 lập ngày 22/10/2024 giữa cơ quan điều tra Công an tỉnh G với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
  • - Tiếp tục giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh G quản lý, tiêu huỷ theo quy định của pháp luật đối với:
  • 01 khẩu súng ngắn ổ quay, dài 20cm.
  • 01 khẩu súng ngắn ổ quay, dài 13cm.
  • (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 06/LNK-VC24 ngày 26/5/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh G với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh G).

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Lê Ngọc H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • -VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • -VKSND tỉnh Gia Lai;
  • -VPCQ CSĐT Công an tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Trại tạm giam T20;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (criminal case)

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger