|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HSST
Ngày: 18/11/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa;
Bà Lê Thị Thận.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Duy Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 và ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2024/ QĐXXST – HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Y Q, sinh năm 2005, tại tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: M'Nông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y M và bà H; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
Bị hại: Ông K Đê L, sinh năm 1979, (vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Điểu K, sinh năm 1996 (vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Điểu Nam, sinh năm 1995, (vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Điểu Hải T, sinh năm 1999, (vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Điểu Si M2, sinh năm 2005, (vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Điểu Đ, sinh năm 2001, (vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Người làm chứng:
- Điểu Na T1, sinh năm 2004 (vắng mặt).
- Điểu M1, sinh năm 2001(vắng mặt).
- Điểu X, sinh năm 2008 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
ịa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 01/02/2024, Y Q cùng với Điểu X đi đến nhà của Điểu M1 ở thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Y Quyền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bán lấy tiền tiêu xài, nên Q nói rối với M1 và X là đi lấy máy cưa của người khác đang cầm cố ở nhà Q để mang đi bán. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, M1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93L1-560.96 chở quyền và X đi về nhà của Q ở tại thôn S, xã T, huyện B Khi về đến nhà, Q vào nhà ăn cơn, còn M1 và X đứng ở trước cổng nhà. Ăn cơm xong, Q đi ra ngoài cổng gặp M1 và X nói “đi theo tao vào rẫy lấy máy”. M1 lấy xe mô tô chở Q và X đi vào rẫy anh K’Đe Lai thuộc thôn S, xã T, huyện B Khi đến nơi, Q nói với M1 và X đứng đợi bên ngoài, còn Q đi vào trong chòi rẫy của anh K’Đe Lai lấy 01 máy cưa nhãn hiệu STIHL 381, 01 máy cưa nhãn hiệu HUSPANDA 365 và 01 máy khoan đất cầm tay nhãn hiệu OSHIMA mang ra chỗ M1 và X. Sau đó, Q cùng với M1 và X đưa số tài sản trên về nhà M1. Đến khoảng 11 giờ ngày 02/02/2024, Quyền nhờ M1 đi bán 01 máy cưa nhãn hiệu nhãn hiệu STIHL 381 cho Điểu Kên được 1.500.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ ngày 02/02/2024, Đ1 Na Tha đến nhà M1 chơi, thì Q hỏi T1 có biết ai mua máy cưa không, T1 trả lời “có người mua”. Quyền đưa cho anh T1 01 máy cưa nhãn hiệu HUSPANDA 365 đi bán. Tha nhờ Điểu Đ bán cho anh Đ1 Hải Triều được 1.300.000 đồng. Đ đưa lại cho T1 1.000.000 đồng,T1 cầm 1.000.000 đồng đưa cho Q. Đến khoảng 09 giờ ngày 04/02/2024, Quyền nhờ M1 bán 01 máy khoan đất hiệu OSHIMA cho Điều Nam được 1.300.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Ngày 02/4/2024, ông K’Đe Lai nghi ngờ Y Quyền trộm tài sản của mình, nên ông làm đơn trình báo Công an xã T. Công an làm việc với Q, Q thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của ông L. Công an xã T lập hồ sơ chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 18 ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện B, kết luận: Tại thời điểm xảy ra tội phạm ngày 01/02/2024:
- + 01 Máy cưa nhãn hiệu STIHL, loại 381, đã qua sử dụng, vẫn còn hoạt động, mua năm 2023 có giá trị: 2.000.000 đồng.
- + 01 máy cưa nhãn hiệu HUSPADA 365, đã qua sử dụng, vẫn còn hoạt động, mua năm 2023 có giá trị: 2.500.000 đồng.
- + 01 máy khoan đất cầm tay nhãn hiệu OSHIMA, đã qua sử dụng, vẫn còn hoạt động, mua năm 2023 có giá trị: 2.700.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
- Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả lại 01 máy cưa STIHL 381, 01 máy cưa HUSPANDA 365 và 01 máy khoan OSHIMA cho anh K' Đe Lai.
- Về trách nhiệm dân sự:
- + Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Điểu Kên yêu cầu bồi thường 1.500.00 đồng, Điểu N yêu cầu bồi thường 1.300.000 đồng, Điểu Đông yêu cầu bồi thường 1.000.000 đồng. Bị cáo Y Q đã bồi thường xong.
Tại Cáo trạng số 101/CT-VKS.BĐ ngày 23/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Y Q về Tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Y Q phạm Tội trộm cắp tài sản.
Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s, i khoản 1, Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Y Q từ 06 đến 08 tháng tù.
- Vê hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Bị cáo Y Q thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại: Có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 01/02/2024, Y Q lén lút trộm cắp 01 máy cưa nhãn hiệu STIHL 381, 01 máy cưa nhãn hiệu HUSPANDA 365 và 01 máy khoan nhãn hiệu OSHIMA có giá trị tổng cộng 7.200.000 đồng của anh K' Đe Lai tại thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Y Q đã phạm vào Tội trộm cắp tài sản. quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài. Bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là con em đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo được người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.
Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả lại 01 máy cưa STIHL 381, 01 máy cưa HUSPANDA 365 và 01 máy khoan OSHIMA cho anh K' Đe Lai.
Đối với xe mô tô biển số 93L1-560.96 đã trả lại cho Điểu Si M2 là chủ sở hữu hợp pháp.
Các vật chứng đã được trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo là
người đồng bào dân tộc thiểu số, không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh K Đê L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Bị cáo đã bồi thường cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Điểu K số tiền 1.500.00 đồng, anh Điểu N số tiền 1.300.000 đồng, anh Đ2 Đông số tiền 1.000.000 đồng (anh Đ đã trả lại cho anh Đ1 Hải Triều số tiền 1.000.000 đồng.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối với Điểu M1 và Điểu X đi cùng Y Q, đồng thời Điểu M1 dùng xe mô tô biển kiểm soát 93L1 -560.96 để chở tài sản, nhưng Y Q nói là tài sản do mình nhận cầm đồ mà có và Q thực hiện hành vi trộm cắp tài sản một mình, không có căn cứ xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với Điểu K, Điểu Hải T, Điểu N là những người mua tài sản của Y Q nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có; không có tài liệu chứng cứ khác; không có căn cứ xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với Điểu M1, Điểu Na T1, Điểu Đ là những người mà Q nhờ đi bán tài sản hộ nhưng không biết rõ tài sản do phạm tội mà có, không có tài liệu chứng cứ khác; không có căn cứ xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Y Q phạm Tội trộm cắp tài sản
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Y Q 06 tháng tù (sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Buộc bị cáo Y Q phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
Bản án số 108/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 108/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y Q, K1, Đ 173, Trộm cắp Tài Sản
