Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày 13 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan .
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sở;
  • Bà Nguyễn Thị Tĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

  • - Trần Thái S, sinh năm 2001 tại Long An.
  • Nơi cư trú: Số B, đường H, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: thợ hớt tóc; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thái M và bà Nguyễn Thị Thu H, bị cáo chưa có vợ, con.
  • Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Hồ Hoàng Minh H1, sinh ngày 17/3/2006; Địa chỉ: 7, đường C, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • + Anh Võ Anh T, sinh năm 2003; Địa chỉ: Số A, đường N, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • + Anh Phạm Lê Anh D, sinh năm 2002; Địa chỉ: Số B, đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 17/6/2024, bị cáo Trần Thái S đi bộ từ nhà tại địa chỉ: Số B, đường H, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An đến gặp một nam thanh niên tên gọi là T3 nhà ở gần nhà bị cáo để mua ma túy. T3 đưa cho bị cáo 02 gói cần sa, rồi bị cáo đưa cho T3 số tiền 400.000đ, sau khi mua xong bị cáo cất 02 gói cần sa vào bên trong gói thuốc lá hiệu SAIGON màu xám – bạc và cất vào túi quần bên phải mà bị cáo đang mặc, rồi đi về nhà. Sau đó Phạm Lê Anh D đến nhà bị cáo và chở bị cáo đến tiệm G tại Phường D, thành phố T, tỉnh Long An để chơi game, khi đến tiệm game thì bị cáo có gặp Võ Anh T đang chơi game. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi chơi game xong bị cáo và D đi ra quán cà phê kế quán N thuộc Phường C, thành phố T, tỉnh Long An để uống nước, tại đây bị cáo có nhắn tin cho T rủ đánh bida, T đồng ý nên bị cáo kêu T chạy ra quán cà phê kế quán nhậu A T1 để uống nước. Sau đó bị cáo tiếp tục nhắn tin cho Hồ Hoàng Minh H1 rủ đi đánh bida, H1 đồng ý nên bị cáo nói H1 chạy ra quán cà phê kế quán nhậu A T1 để uống nước. Sau khi uống nước xong, cả 04 người đi đến quán B tại đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An để đánh bida. Cả 04 người chơi đến 00 giờ ngày 18/6/2024 thì tính tiền, sau đó cả nhóm rủ nhau đến Công viên H thuộc Phường B, thành phố T, tỉnh Long An, lúc ngày cả 04 người gồm: bị cáo, T, D, H1 đi lại bàn ghế đá trong công viên ngồi và nói chuyện. Khoảng 05 phút sau thì bị cáo móc từ trong túi quần bên phải ra 01 gói thuốc lá hiệu SAIGON màu xám - bạc, rồi mở gói thuốc ra lấy 01 ống kim loại màu đen – bạc có lò xo cầm trên tay và lấy gói nylon màu trắng có rãnh khép chứa cần sa ra. Bị cáo nhét cần sa vào trong ống kim loại màu đen – bạc, phần cần sa còn lại thì bị cáo cầm trên tay, do ống kim loại nhỏ nên mỗi lần chỉ nhét một ít cần sa, sau đó bị cáo đưa cho T tự đốt lên và hút trước, kế tiếp đến D, H1 và bị cáo hút sau cùng; khi bị cáo nhét hết cần sa thì bị cáo ném gói nylon màu trắng có sọc đỏ rỗng xuống dưới bàn đá ngay chỗ 04 người đang ngồi, rồi cất dụng cụ vào trong gói thuốc lá và ngồi chơi. Khoảng 05 phút sau thì lực lượng công an tuần tra đến kiểm tra phát hiện dưới bàn đá có 01 gói nylon màu trắng có sọc đỏ rỗng, trong túi quần bên phải mà bị cáo đang mặc có 01 gói thuốc lá hiệu SAIGON màu xám – bạc bên trong chứa 01 gói nylon màu trắng có sọc đỏ chứa thảo mộc khô màu xám, 01 ống kim loại màu đen – đầu màu bạc có gắn lò xo và 01 hộp quẹt gas màu đỏ. Lực lượng công an đã lập biên bản thu giữ toàn bộ tang vật.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói thuốc lá màu xám – bạc bên trong chứa 01 gói nylon màu trắng có sọc đỏ chứa thảo mộc khô màu xám, 01 ống kim loại màu đen có gắn lò xo đã được niêm phong có chữ ký của Trần Thái S, Võ Anh T, Phạm Lê Anh D, Hồ Hoàng Minh H1, Dương Hoài V, Phạm Thanh T2, ký hiệu A1.
  • - 01 gói nylon màu trắng có sọc đỏ rỗng đã được niêm phong có chữ ký của Trần Thái S, Võ Anh T, Phạm Lê Anh D, Hồ Hoàng Minh H1, Dương Hoài V, Phạm Thanh T2, ký hiệu A2.
  • - 01 hộp quẹt gas màu đỏ.

Tại bản kết luận giám định số: 433/KL-KTHS ngày 24/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận như sau: Thảo mộc khô đựng trong 01 túi nylon có rãnh ghép viền đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,0339 gam, loại: Cần sa.

Cáo trạng số 109/CT-VKSTA ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Trần Thái S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thái S khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định và không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Thái S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thái S từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

  • - Bìa thư màu trắng, số lượng: 01 cái; đặc điểm: được niêm phong số 433 ngày 24/6/2024 có chữ ký của người niêm phong Nguyễn Tấn P, người chứng kiến Phùng Mạnh K và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh L bên trong gồm: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lương 0,4772 gam, mẫu vật và vỏ đựng mẫu vật; tình trạng: niêm phông nguyên vẹn.
  • - Gói nylon màu trắng có rãnh khép viền đỏ, số lượng: 01 cái; đặc điểm: được niêm phong có chữ ký của Trần Thái S, Võ Anh T, Phạm Lê Anh D, Hồ Hoàng Minh H1, Dương Hoài V, Phạm Thanh T2, ký hiệu A2.
  • - Hộp quẹt gas, số lượng: 01 cái; đặc điểm: màu đỏ; tình trạng: đã qua sử dụng.

Buộc bị cáo Trần Thái S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hồ Hoàng Minh H1, anh Võ Anh T, anh Phạm Lê Anh D vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Trần Thái S là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 00 giờ 05 phút ngày 18/6/2024 tại Công viên H thuộc Phường B, thành phố T, tỉnh Long An bị cáo Trần Thái S đang có hành vi cung cấp ma túy loại cần sa và dụng cụ sử dụng ma túy cho Võ Anh T, Phạm Lê Anh D và Hồ Hoàng Minh H1 sử dụng trái phép. Do đó, đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thái S đủ yếu tố cấu thành tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo tổ chức cho 03 người sử dụng trái phép chất ma túy gồm Võ Anh T, Phạm Lê Anh D và Hồ Hoàng Minh H1 là vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[5] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo ý thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có ông nội là thương binh đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thu lợi bất chính cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 bìa thư được niêm phong nguyên vẹn số 433 ngày 24/6/2024 có chữ ký ghi họ tên của người niêm phong Nguyễn Tấn P, người chứng kiến Phùng Mạnh K và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh L bên trong gồm: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lương 0,4772 gam, 01 gói thuống lá màu xám-bạc, 01 ống kim loại màu đen có gắn lò xo và tất cả vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 433; 01 gói nylon màu trắng có sọc đỏ rõng đã được niêm phong có chữ ký của Trần Thái S, Võ Anh T, Phạm Lê Anh D, Hồ Hoàng Minh H1, Dương Hoài V, Phạm Thanh T2, ký hiệu A2; 01 hộp quẹt gas màu đỏ, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

[10] Tại địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan công an còn thu giữ trong túi quần bên phải mà bị cáo Trần Thái S đang mặc có 01 gói thuốc lá hiệu SAIGON màu xám – bạc bên trong chứa 01 gói nylon màu trắng có sọc đỏ chứa thảo mộc khô màu xám, qua giám định có khối lượng 1,0339 gam, loại: Cần sa. Xét thấy: khối lượng ma túy này không đủ định lượng cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Trần Thái S đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Trần Thái S.

[11] Quá trình điều tra bị cáo Trần Thái S khai mua chất ma túy của một nam thanh niên tên Trần Bá T3 ở đường H, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành mời làm việc đối với Trần Bá T3 nhưng T3 không thừa nhận, T3 khai nhận do thời gian trên T3 cùng với mẹ ruột và một số bạn bè của mẹ ruột T3 đi du lịch tại Đ từ ngày 16/06/2024 đến ngày 23/06/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất giữa bị cáo Trần Thái S với Trần Bá T3 nhưng T3 vẫn không thừa nhận. Đồng thời cũng có chị Hồ Thu T4, chị Bùi Ngọc P1 xác nhận trong thời gian trên T3 đã đi du lịch ở Đ, do vậy chưa có cơ sở xác định T3 đã bán số ma túy trên cho bị cáo.

[12] Đối với Võ Anh T, Phạm Lê Anh D và Hồ Hoàng Minh H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có tham gia bàn bạc, không hùn tiền cho việc sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Võ Anh T, Phạm Lê Anh D và Hồ Hoàng Minh H1 đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an phường B1 xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng này là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thái S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thái S 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2024.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Thái S 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (13/11/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 bìa thư được niêm phong nguyên vẹn số 433 ngày 24/6/2024 có chữ ký ghi họ tên của người niêm phong Nguyễn Tấn P, người chứng kiến Phùng Mạnh K và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh L bên trong gồm: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lương 0,4772 gam, 01 gói thuống lá màu xám-bạc, 01 ống kim loại màu đen có gắn lò xo và tất cả vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 433.
  • - 01 gói nylon màu trắng có sọc đỏ rõng đã được niêm phong có chữ ký của Trần Thái S, Võ Anh T, Phạm Lê Anh D, Hồ Hoàng Minh H1, Dương Hoài V, Phạm Thanh T2, ký hiệu A2.
  • - 01 hộp quẹt gas màu đỏ.

(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 63/QĐ-VKSTA ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An).

  1. Các vấn đề khác: Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập hồ sơ và chuyển đến cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Trần Thái S.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Trần Thái S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi Nhận :

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND Tp Tân An;
  • - CA Tp Tân An;
  • - Chi cục THA Tp Tân An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tuấn Phan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thái S phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger