TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 108/2024/HS-ST Ngày: 12/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh
Các Hội thẩm nhân dân.
+ Bà Phạm Thị Loan;
+ Bà Tăng Thị Hiệu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 13/TB-TA ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Vũ T, sinh ngày 26/6/1984 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình
Nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Vũ K, sinh năm 1953 và bà: Lê Thị D, sinh năm 1959. Năm 2011, ông K được tặng Bằng khen do đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; năm 2017 được tặng Kỷ niệm chương Vì chủ quyền an ninh biên giới; vợ, con: chưa có; tiền sự: không;
Tiền án: 03 tiền án:
- Bản án số 32/2016/HSST ngày 20/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 8/2016 chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm; ngày 15/10/2017, chấp hành xong hình phạt tù; chưa thi hành phần bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 15.000.000 đồng cho anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1970, ở tổ G, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
- Bản án số 66/2018/HS-ST ngày 17/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 11/2018 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; ngày 22/10/2019 chấp hành xong hình phạt tù;
- Bản án số 92/2021/HS-ST ngày 04/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình áp dụng điểm g (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tháng 12/2021 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; ngày 18/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù;
Nhân thân: Bản án số 31/2001/HSST ngày 09/11/2001 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bản án số 19/2002/HSST ngày 16/8/2002 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; tổng hợp với hình phạt của Bản án số 31/2001/HSST ngày 09/11/2001, T1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 12 tháng tù; tháng 12/2002 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; ngày 28/01/2005 chấp hành xong hình phạt tù. Bản án số 115/2008/HSST ngày 25/7/2008 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS 1999; ngày 05/9/2008 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; ngày 02/3/2009, chấp hành xong hình phạt tù. Bản án số 63/2010/HSST ngày 03/12/2010 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 bộ luật Hình sự năm 1999; ngày 27/11/2011 chấp hành xong hình phạt tù; tháng 6/2012 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Quyết định số 149/QĐ/XPVPHC ngày 10/6/2005 của Công an huyện Q xử phạt hành chính phạt tiền 100.000 đồng về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác, gây hư hỏng tài sản và gây rối trật tự công cộng; đã nộp phạt xong ngày 01/7/2005.
Bị tạm giữ từ ngày 28/5/2024 đến ngày 03/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).
- Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Cao D1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Bà Lê Thị D, sinh năm 1959 (có mặt)
- Nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Anh Đinh Bá H, sinh năm 1999 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Ông Chu Văn Q, sinh năm 1957 (vắng mặt)
- Nơi cư trú tại thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 28/5/2024, tại khu vực thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Q phát hiện Đoàn Vũ T đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 17B5-335.91, có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu T dừng xe để kiểm tra. Tại đây, trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và anh Đinh Bá H, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã A cùng ông Chu Văn Q, sinh năm 1957, trú tại thôn L, xã Q, huyện Q, tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi quần bên trái phía trước T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền 3.070.000 đồng; kiểm tra chiếc xe mô tô trên, phát hiện tại phần bụng xe vị trí giá để đồ cài 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu đỏ, được buộc bằng 02 dây cao su màu vàng, bên trong đựng 02 túi nilon trong suốt, trong đó: 01 túi chứa 02 túi nilon trong suốt có nẹp cài màu đỏ lồng vào nhau, đều chứa các hạt tinh thể trong suốt; túi còn lại chứa 03 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu đỏ lồng vào nhau, đều chứa các hạt tinh thể trong suốt (niêm phong ký hiệu M, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 20,0574 gam). T khai nhận đó là ma túy đá của T để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng và mời người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Vũ T tại thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình phát hiện, thu giữ tại phòng ngủ tầng 2 gồm: 05 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu xanh, chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1, gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 5,3698 gam); 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài có mực in màu xanh, viền màu xanh chứa 09 viên nén màu hồng; 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài có mực in màu xanh, viền màu xanh chứa 10 viên nén màu hồng (tổng 19 viên nén, niêm phong ký hiệu M2, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 1,9065 gam); 01 chai nhựa màu xanh đen có nắp nhựa màu trắng được đục hai lỗ, có gắn một ống hút nhựa và một cóng thủy tinh; một bật lửa ga.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Đoàn Vũ T khai nhận: T sử dụng ma túy từ năm 2001. Thời gian gần đây, T sử dụng nhiều loại ma tuý. Khoảng 17 giờ ngày 27/5/2024, T đi bộ từ nhà đến khu vực thôn L, xã Q, huyện Q mua ma túy của một người đàn ông, khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, với số tiền 5.000.000 đồng rồi mang về nhà mở ra xem thì thấy bên trong gồm có: 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu đỏ được buộc bằng 02 dây cao su màu vàng chứa 02 túi nilon trong suốt (trong đó: 01 túi chứa 02 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu đỏ lồng vào nhau chứa các hạt tinh thể trong suốt; túi còn lại chứa 03 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu đỏ lồng vào nhau chứa các hạt tinh thể trong suốt); 05 túi nilon trong suốt có đặc điểm tương tự nhau, đều có nẹp cài viền màu xanh, đều chứa các hạt tinh thể trong suốt; 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài chứa các hạt tinh thể trong suốt; 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu xanh chứa 09 viên nén màu hồng; 01 túi nilon trong suốt có nẹp cài viền màu xanh, túi có in mực màu xanh chứa 10 viên nén màu hồng. Sau đó, T lấy một ít ma túy sử dụng tại phòng ngủ của T vào tối ngày 27/5/2024 và sáng ngày 28/5/2024. Sáng ngày 28/5/2024, T đến nhà anh Nguyễn Cao D1, sinh năm 1989, ở thôn L, xã Q, huyện Q mượn xe mô tô biển kiểm soát 17B5-335.91 của anh D1 đi giải quyết việc riêng. Buổi chiều cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng sợ bị bố mẹ phát hiện nên T lấy 01 túi ma túy trong số ma túy mua được cài vào giá để đồ phần bụng xe mô tô trên rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khi đi trên đường liên thôn L, xã Q, huyện Q thì bị Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang.
Cáo trạng số 105/CT-VKSQP ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Đoàn Vũ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đoàn Vũ T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng và nội dung vụ án nêu trên.
Người chứng kiến bà Lê Thị D trình bày: Bà là mẹ đẻ bị cáo Đoàn Vũ T. Đối với số tiền 3.070.000 đồng Cơ quan điều tra đã quản lý của bị cáo T là của bà. Ngày 28/5/2024 bà D đưa cho T 3.070.000 đồng để đi mua thuốc cho ông Đoàn Vũ K vì ông K bị tai biến. Hiện tại bà D đã nhận lại số tiền 3.070.000 đồng, không có ý kiến gì thêm. Bà không biết T tàng trữ trái phép ma tuý tại chỗ ở của T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đoàn Vũ T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm n, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 09 năm đến 10 năm tù; đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn Vũ T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Công an huyện Q lập hồi 18 giờ ngày 28/5/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 01-02); Các biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 19 giờ 35 phút, 19 giờ 40 phút cùng ngày 28/5/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q (bút lục số 04-05); Biên bản khám xét, các biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 20 giờ, 20 giờ 30 phút, 20 giờ 40 phút cùng ngày 28/5/2024 chỗ ở của Đoàn Vũ T tại thôn L, xã Q, huyện Q (bút lục số 07-08; 10-11); Kết luận giám định số 727/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 20,0574 gam (Hai mươi phẩy không nghìn năm trăm bẩy mươi tư gam). Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 5,3698 gam (Năm phẩy ba nghìn sáu trăm chín mươi tám gam). Mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 1,9065 gam (Một phẩy chín nghìn không trăm sáu mươi lăm gam) Methamphetamine STT: 247, Danh mục IIC; Ketamine STT 40 Danh mục III phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ (bút lục 15-16); Phiếu xét nghiệm test nhanh Morphin/Heroin ngày 29/5/2024 của Trung tâm y tế huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 59); Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng, chứng kiến: anh Nguyễn Cao D1 (bút lục số 124-125); bà Lê Thị D (bút lục số 116-122);anh Đinh Bá H (bút lục 103-107); chị Nguyễn Thị H1 (bút lục số 134-135); ông Chu Văn Q (bút lục số 108-113); Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/5/2024, tại khu vực thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Đoàn Vũ T đã có hành vi tàng trữ trái phép trên xe mô tô biển kiểm soát 17B5-335.91 gồm 02 túi Methamphetamine có tổng khối lượng 20,057 gam, với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, T còn cất giấu tại chỗ ở của T 02 túi ma túy chứa 19 viên nén màu hồng với tổng khối lượng 1,9065 gam Methamphetamine và 06 túi ma túy với tổng khối lượng 5,3698 gam Ketamine, với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an huyện Q phát hiện, thu giữ. Như vậy, tổng khối lượng 02 loại ma túy bị cáo tàng trữ trái phép để sử dụng là 27,3337 gam (gồm: 21,9639 gam Methamphetamine và 5,3698 gam Ketamine); bị cáo đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
2) Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- n) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;
- o) Tái phạm nguy hiểm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Tệ nạn ma tuý hiện nay đang là hiểm hoạ của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã 07 lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhận thức rất rõ tác hại của ma túy song vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã 07 lần bị xử phạt tù đều về tội “Trộm cắp tài sản”, hiện chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Năm 2005 bị cáo bị Công an huyện Q xử phạt hành chính phạt tiền 100.000 đồng về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác, gây hư hỏng tài sản và gây rối trật tự công cộng.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bố đẻ bị cáo được Nhà nước tặng Bằng khen do đã có thành tích tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Kỷ niệm chương Vì chủ quyền an ninh biên giới nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sử dụng số tiền 5.000.000 đồng để mua ma tuý, khối lượng ma túy tàng trữ nhiều do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng: Chất ma túy thu giữ của bị cáo Đoàn Vũ T hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và dụng cụ sử dụng ma túy nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chai nhựa màu đen, có nắp nhựa màu trắng trên nắp được đục 02 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa và 01 cóng thủy tinh; 01 bật lửa ga là dụng cụ của bị cáo T dùng để sử dụng ma tuý nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung đã qua sử dụng là của bị cáo T dùng để liên lạc với người thân, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại bị cáo.
[8] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết, tại khu vực ngã tư chợ L, thôn L, xã Q, huyện Q nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào tối ngày 27/5/2024 và sáng ngày 28/5/2024 của T, ngày 16/9/2024 Công an huyện Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng, T đã nộp phạt xong.
Đối với số tiền 3.070.000 đồng Cơ quan điều tra đã quản lý trong vụ án là của bà Lê Thị D, sinh năm 1959, mẹ đẻ bị cáo; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 17B5-335.91 thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Cao D1, anh D1 cho T mượn. Anh D1 không biết T sử dụng chiếc xe vào việc liên quan đến ma tuý nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền trên cho bà D, trả lại chiếc xe trên cho anh D1 là có căn cứ.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Vũ T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Đoàn Vũ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt: Áp dụng điểm n, o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Vũ T 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 28/5/2024. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ 26,4578 gam (hai mươi sáu phẩy bốn nghìn năm trăm bẩy mươi tám gam) ma túy hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong 03 phong bì niêm phong số 727/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T; 01 chai nhựa màu đen, có nắp nhựa màu trắng trên nắp được đục 02 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa và 01 cóng thủy tinh; 01 bật lửa ga.
- - Trả cho bị cáo Đoàn Vũ T 01 điện thoại di động nhãn hiệu sam sung (đã qua sử dụng).
(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 05 ngày 09/10/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Đoàn Vũ T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/11/2024)./.
Bị cáo Đoàn Vũ T phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà |
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Doanh |
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND huyện Quỳnh Phụ; VKSND tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Quỳnh Phụ;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ;
- TAND tỉnh Thái Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 108/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Vũ T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
