Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Hùng Tuấn.
  2. Ông Nguyễn Duy Tính.

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Khánh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:

Lê Trung K, sinh ngày: 01/9/2000 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu B, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại Bản án số 56/2018/HS-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 28/12/2022; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024 ra Quyết định khởi tố bị can. Qua xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình, xác định không tạm giam đối với bị cáo thì bị cáo có khả năng tiếp tục phạm tội mới. Do đó ngày 13/6/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 55 phút ngày 07/6/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ đang làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc tổ C, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lê Trung K, sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú: Khu B, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, K đã vứt 01 túi nilon xuống đất, sau đó K nhặt túi nilon lên và tự giác giao nộp cho Cơ quan công an 01 túi nilon có đặc điểm là 01 gói nilon màu trắng có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng, một mặt in chìm chữ WY, K khai nhận đây là ma tuý đá và ma tuý hồng phiến nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của K: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã cũ, số imei: 355831087080601 kèm sim số 0866.134.331. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong số ma tuý có đặc điểm như trên theo đúng quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với K. Kết quả dương tính với ma tuý.

Ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Lê Trung K. Tại Bản kết luận giám định số 819/KLGĐ ngày 12/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận:

"Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,269 gam, loại Methamphetamine.

01 viên nén hình tròn màu hồng, một mặt có in chữ WY được chứa bên trong 01 túi nilon màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,100 gam, loại Methamphetamine.

Methamphetamin, là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Hoàn trả lại 0,189 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 0,062 gam viên nén màu hồng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Trung K khai nhận về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ khi bắt quả tang: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ ngày 07/6/2024, Lê Trung K một mình đi taxi đến khu vực thuộc phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây K gặp 01 người đàn ông chỉ biết tên là Văn A, khoảng 25 tuổi, K hỏi và mua được của Văn A 01 gói ma tuý có đặc điểm là 01 gói nilon màu trắng có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng, một mặt in chìm chữ WY với giá 500.000đ. Sau khi mua được ma tuý, K đi ra khu

vực vắng người ở gần đó mở gói ma tuý vừa mua được tách lấy một phần sử dụng cho bản thân, phần còn lại và 01 viên nén màu hồng K gói lại và cầm ở tay phải rồi bắt taxi đi về. Khi đi về đến khu vực gần nhà nghỉ Q thuộc phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, K xuống xe đi bộ đến cửa nhà nghỉ Q thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.

Tại bản Cáo trạng số: 105/CT-VKS-VT, ngày 05 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Trung K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS của Bộ luật Hình sự:

+ Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Trung K từ 33 (Ba mươi ba) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/6/2024.

+ Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã cũ, số imei: 355831087080601 không liên quan đến việc phạm tội.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 bì niêm phong số 819/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,189 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 0,062 gam viên nén màu hồng còn lại sau giám định;

+ 01 sim số 0866.134.331 do không còn giá trị sử dụng.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Trung K phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố

Việt Trì, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và vật chứng cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện như sau:

Hồi 21 giờ 55 phút ngày 07/6/2024, tại khu vực thuộc tổ C, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Lê Trung K có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,369 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Do vậy, hành vi nêu trên của Lê Trung K đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

c) Heroine, C, Methamphetamine, A1, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng do lỗi cố ý. Hành vi nêu trên của bị cáo không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 28/12/2022, sau khi ra trại đến ngày 07/6/2024, bị cáo tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,369 gam ma túy loại Methamphetamine. Do đó, bị cáo phải chịu tình

tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã cũ, số imei: 355831087080601 do không liên quan đến việc phạm tội là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Cần tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 bì niêm phong số: 819/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,189 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 0,062 gam viên nén màu hồng còn lại sau giám định là phù hợp;
  • + 01 sim số 0866.134.331 do không còn giá trị sử dụng là phù hợp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của K ngày 07/6/2024. Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

- Đối với người đàn ông tên Văn A đã bán ma túy cho K, do K không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của K không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được. Do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Văn A là phù hợp.

[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật

Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Trung K 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/6/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã cũ, số imei: 355831087080601.

2.Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy:

  • + 01 bì niêm phong số: 819/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,189 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 0,062 gam viên nén màu hồng còn lại sau giám định;
  • + 01 sim số 0866.134.331.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Trung K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - CAND thành phố Việt Trì;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP.Việt Trì;
  • - UBND nơi b/c cư trú;
  • - Lưu AV, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 108/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: K tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger